Ê-sai 63
VIE2010

Ê-sai 63

63
Ngày báo thù và cứu rỗi
1Đấng từ thành Bốt-ra của Ê-đôm đến,#Êsai 34:5-17; Giê 49:7-22; Êxê 25:12-14; 35:1-15; Amốt 1:11-12; Ápđia 1-14; Mal 1:2-5.
Mặc áo đỏ thẫm, trang phục lộng lẫy,
Bước đi oai vệ#63:1 Nn: Cúi mình. với sức mạnh vĩ đại,
Đấng ấy là ai?
“Ấy chính là Ta, Đấng phán lời công chính,
Đấng có quyền năng cứu rỗi!”
2Vì sao y phục của Chúa đỏ thắm,
Trang phục Ngài như trang phục của người đạp bồn nho?
3“Chỉ một mình Ta đạp nơi bồn ép nho,#Khải 14:20; 19:13,15.
Trong các dân chẳng ai ở với Ta.
Ta đã đạp lên chúng trong cơn tức giận,
Giẫm nát chúng trong cơn thịnh nộ của Ta;
Máu của chúng như nước nho văng tung tóe lên áo Ta,
Toàn bộ y phục Ta đều vấy máu cả.
4Vì lòng Ta đã định ngày báo thù,
Và năm cứu chuộc của Ta đã đến.
5Ta nhìn xem, không ai giúp đỡ;#Êsai 59:16.
Ta ngạc nhiên, chẳng ai hỗ trợ;
Nên chính cánh tay Ta cứu giúp Ta,
Cơn thịnh nộ Ta hỗ trợ Ta.
6Trong cơn tức giận, Ta đã giày đạp các dân;
Ta khiến chúng say vì cơn thịnh nộ của Ta,
Và làm cho máu chúng đổ ra trên đất.”
Lòng thương xót của Đức Chúa Trời và sự bất trung của dân Ngài
7Tôi xin nhắc lại sự nhân từ của Đức Giê-hô-va,
Và sự ca ngợi Đức Giê-hô-va,
Vì mọi điều Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng ta,
Và những ơn phước lớn lao Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên
Theo lòng thương xót,
Và sự nhân từ vô biên của Ngài.
8Vì Ngài đã phán: “Thật, họ là dân Ta,
Tức là con cái sẽ chẳng lừa dối.”
Và Ngài làm Đấng Cứu Rỗi họ.
9Mỗi khi dân Ngài bị khốn khổ thì chính Ngài cũng khốn khổ,
Và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ.#63:9 Trong nguyên tác, câu nầy khó hiểu nên có bản dịch: Trong mọi nỗi khốn khổ của họ, không phải thiên sứ của Ngài mà chính sự hiện diện của Ngài đã cứu họ.
Vì tình yêu và lòng thương xót,
Chính Ngài đã cứu chuộc họ;
Ngài đã bồng ẵm và mang lấy họ suốt các ngày thuở xưa.
10Nhưng họ đã nổi loạn
Và làm buồn Thánh Linh của Ngài.
Vì thế, Ngài trở thành kẻ thù của họ,
Chính Ngài chiến đấu chống lại họ.
11Bấy giờ, dân Ngài nhớ lại
Môi-se ngày xưa và hỏi:
“Đấng đã đem người chăn
Và bầy chiên lên khỏi biển ở đâu?
Đấng đã đặt Thánh Linh của Ngài
Giữa dân Ngài, ở đâu?”
12Đấng khiến cánh tay vinh quang Ngài#Xuất 14:21.
Đi bên phải Môi-se,
Là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ,
Để rạng danh đời đời;
13Là Đấng đã dìu dắt dân Ngài vượt trên sóng đào,
Như ngựa phi trong hoang mạc mà không vấp ngã.
14Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân Ngài nghỉ ngơi,
Như bầy súc vật xuống thung lũng tìm nơi nghỉ.
Ngài dẫn dắt dân Ngài như thế
Để danh Ngài được vinh quang.
Lời cầu nguyện ăn năn
15Từ trên trời, xin Chúa nhìn xuống,
Từ chỗ ở thánh và vinh quang của Ngài, xin Chúa xem!
Lòng sốt sắng và công việc quyền năng của Ngài ở đâu?
Sự xúc động và lòng thương xót của Ngài
Bị ngăn lại rồi ư!
16Thật, Ngài là Cha chúng con;
Dù Áp-ra-ham không biết chúng con,
Và Y-sơ-ra-ên chẳng thừa nhận chúng con;
Lạy Đức Giê-hô-va, Ngài vẫn là Cha chúng con,
Danh Ngài là Đấng Cứu Chuộc chúng con từ trước vô cùng.
17Lạy Đức Giê-hô-va, sao để chúng con lầm lạc khỏi đường Ngài?
Sao để lòng chúng con cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài?
Vì các đầy tớ Ngài và các bộ tộc của cơ nghiệp Ngài,
Xin Chúa trở lại!
18Dân thánh của Ngài mới sở hữu xứ nầy chưa bao lâu,
Mà kẻ thù chúng con đã giày đạp nơi thánh của Ngài.
19Đã từ lâu, chúng con như một dân không hề được Ngài cai trị,
Và không còn được gọi bằng danh Ngài nữa.

© 2010 United Bible Societies. All rights reserved.

Tìm hiểu thêm về Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010