Biểu trưng YouVersion
Biểu tượng Tìm kiếm

Ma-thi-ơ 27:1-56 - So sánh Tất cả các Bản dịch

Ma-thi-ơ 27:1-56 VIE1925 (Kinh Thánh Tiếng Việt 1925)

Đến sáng mai, các thầy tế-lễ cả và các trưởng-lão trong dân hội-nghị nghịch cùng Đức Chúa Jêsus để giết Ngài. Khi đã trói Ngài rồi, họ đem nộp cho Phi-lát, là quan tổng-đốc. Khi ấy, Giu-đa, là kẻ đã phản Ngài, thấy Ngài bị án, thì ăn-năn, bèn đem ba chục miếng bạc trả cho các thầy tế-lễ cả và các trưởng-lão, mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô-tội! Song họ đáp rằng: Sự đó can gì đến chúng ta? Mặc kệ ngươi. Giu-đa bèn ném bạc vào đền-thờ, liền trở ra, đi thắt cổ. Nhưng các thầy tế-lễ cả lượm bạc và nói rằng: Không có phép để bạc nầy trong kho thánh, vì là giá của huyết. Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ. Nhân đó, ruộng ấy đến nay còn gọi là “ruộng huyết.” Bấy giờ được ứng-nghiệm lời đấng tiên-tri Giê-rê-mi đã nói rằng: Họ lấy ba chục bạc, là giá của Đấng đã bị định bởi con-cái Y-sơ-ra-ên, và đưa bạc ấy mà mua ruộng của kẻ làm đồ gốm y như lời Chúa đã truyền cho ta. Đức Chúa Jêsus đứng trước quan tổng-đốc, quan hỏi rằng: Có phải ngươi là Vua của dân Giu-đa không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời. Trong lúc các thầy tế-lễ cả và các trưởng-lão kiện Ngài, Ngài không đối-đáp gì hết. Phi-lát bèn nói cùng Ngài rằng: Họ có nhiều điều làm chứng kiện ngươi, ngươi há không nghe đến sao? Song Đức Chúa Jêsus không đáp lại một lời gì, đến nỗi làm cho quan tổng-đốc lấy làm lạ lắm. Phàm đến ngày lễ Vượt-qua, quan tổng-đốc thường có lệ tha một tên tù tùy ý dân muốn. Đang lúc ấy, có một tên phạm nổi tiếng, tên là Ba-ra-ba. Khi chúng đã nhóm lại, thì Phi-lát hỏi rằng: Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay là Jêsus gọi là Christ? Vì quan ấy biết bởi lòng ghen-ghét nên chúng đã nộp Ngài. —  Quan tổng-đốc đương ngồi trên tòa án, vợ người sai thưa cùng người rằng: Đừng làm gì đến người công-bình đó; vì hôm nay tôi đã bởi cớ người mà đau-đớn nhiều trong chiêm-bao. — Song các thầy tế-lễ cả và các trưởng-lão dỗ chúng hãy xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jêsus. Quan tổng-đốc cất tiếng hỏi rằng: Trong hai người nầy, các ngươi muốn ta tha ai? Chúng thưa rằng: Ba-ra-ba. Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Đóng đinh nó trên cây thập-tự! Quan hỏi: Song người nầy đã làm việc dữ gì? Chúng lại kêu-la lớn hơn rằng: Đóng đinh nó trên cây thập-tự! Phi-lát thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn-ào càng thêm, thì lấy nước rửa tay trước mặt thiên-hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người nầy; điều đó mặc kệ các ngươi. Hết thảy dân-chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con-cái chúng tôi! Phi-lát bèn tha tên Ba-ra-ba cho chúng; và khiến đánh đòn Đức Chúa Jêsus, đoạn giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập-tự. Lính của quan tổng-đốc bèn đem Đức Chúa Jêsus vào công-đường, và nhóm cả cơ-binh vây lấy Ngài. Họ cởi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài. Đoạn, họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo-báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa! Họ nhổ trên Ngài và lấy cây sậy đánh đầu Ngài. Khi đã nhạo-báng Ngài rồi, thì họ cởi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập-tự. Khi họ đi ra, gặp một người ở thành Sy-ren tên là Si-môn; thì bắt người vác cây thập-tự của Đức Chúa Jêsus. Đã đi tới một chỗ gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ cái Sọ, họ cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng; song Ngài nếm, thì không chịu uống. Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập-tự rồi, thì bắt thăm mà chia nhau áo-xống của Ngài. Rồi họ ngồi đó mà canh-giữ Ngài. Phía trên đầu Ngài họ để cái bảng đề chữ, chỉ về án Ngài, rằng: NGườI NầY Là JêSUS, VUA DâN GIU-đA. Cũng lúc đó, họ đóng đinh hai tên trộm-cướp với Ngài, một tên ở cây thập-tự bên hữu, một tên ở cây thập-tự bên tả. Những kẻ đi ngang qua đó chê-cười Ngài, lắc đầu, mà nói rằng: Ngươi là kẻ phá đền-thờ và dựng lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập-tự! Các thầy tế-lễ cả, các thầy thông-giáo và các trưởng-lão cũng nhạo Ngài rằng: Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập-tự đi, thì chúng ta mới tin. Nó nhờ-cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ Ngài phải giải-cứu cho, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời. Hai tên trộm-cướp bị đóng đinh trên cây thập-tự với Ngài cũng nhiếc-móc Ngài như vậy. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối-tăm mù-mịt. Ước-chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! Sao Ngài lìa-bỏ tôi? Có mấy người đứng đó, nghe kêu, thì nói rằng: Nó kêu Ê-li. Liền có một người trong bọn họ chạy lấy một miếng bông-đá, và thấm đầy giấm, để trên đầu cây sậy mà đưa cho Ngài uống. Nhưng kẻ khác thì lại nói rằng: Hãy để vậy, coi thử có Ê-li đến giải-cứu nó chăng. Đức Chúa Jêsus lại kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh-hồn. Và nầy, cái màn trong đền-thờ bị xé ra làm hai từ trên chí dưới, đất thì rúng-động, đá lớn bể ra, mồ-mả mở ra, và nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại. Sau khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ-mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy. Thầy đội và những lính cùng với người canh giữ Đức Chúa Jêsus, thấy đất rúng-động và những điều xảy đến, thì sợ-hãi lắm, mà nói rằng: Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời. Vả, có nhiều người đàn-bà đứng coi ở đàng xa, là người đã đi theo Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê để hầu việc Ngài. Trong những đàn-bà đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri, mẹ của Gia-cơ và Giô-sép, và mẹ hai con trai của Xê-bê-đê.

Ma-thi-ơ 27:1-56 VIE2010 (Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010)

Đến sáng, tất cả các thầy tế lễ cả và các trưởng lão của dân chúng bàn mưu chống lại Đức Chúa Jêsus để giết Ngài. Họ trói Ngài lại, rồi giải đi giao nộp cho tổng đốc Phi-lát. Khi Giu-đa, kẻ phản Ngài, thấy Ngài bị kết án thì hối hận, đem ba mươi miếng bạc trả lại cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, mà nói rằng: “Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội!” Nhưng họ đáp: “Việc ấy thì có liên can gì đến chúng tôi? Đó là việc của anh.” Giu-đa ném bạc vào đền thờ, rồi trở ra, đi thắt cổ. Nhưng các thầy tế lễ cả nhặt những miếng bạc và nói: “Để bạc nầy vào công quỹ là không hợp lệ, vì là giá của máu.” Vì vậy, họ bàn với nhau dùng bạc ấy mua đồng ruộng của thợ gốm để chôn cất các kiều dân. Vì lý do đó mà đồng ruộng ấy được gọi là Ruộng Máu cho đến ngày nay. Như vậy, lời của nhà tiên tri Giê-rê-mi nói đã được ứng nghiệm: “Họ lấy ba mươi miếng bạc, là giá mà con cái Y-sơ-ra-ên đã định cho Ngài, và dùng bạc ấy mua đồng ruộng của thợ gốm, như Chúa đã truyền cho ta.” Lúc ấy, Đức Chúa Jêsus đứng trước mặt tổng đốc; viên tổng đốc hỏi: “Ngươi có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Chúa Jêsus đáp: “Chính ngươi đã nói thế.” Nhưng khi các thầy tế lễ cả và các trưởng lão tố cáo Ngài, Ngài không trả lời. Phi-lát hỏi Ngài: “Ngươi không nghe biết bao điều họ làm chứng chống lại ngươi sao?” Nhưng Đức Chúa Jêsus không đáp một lời nào khiến viên tổng đốc rất đỗi kinh ngạc. Theo thông lệ, cứ vào dịp lễ, tổng đốc ân xá cho một tù nhân theo ý dân muốn. Lúc ấy, họ đang giữ một tù nhân khét tiếng tên là Ba-ra-ba. Vì vậy, khi họ tụ họp lại, thì Phi-lát hỏi: “Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay Jêsus gọi là Christ?” Vì ông biết, bởi lòng đố kỵ nên họ đã nộp Ngài. Ngoài ra, trong lúc ông ngồi xử án, vợ ông cho người đến thưa rằng: “Xin đừng đụng đến người công chính ấy, chính vì người mà đêm qua tôi bị dằn vặt nhiều trong chiêm bao.” Nhưng các thầy tế lễ cả và các trưởng lão xúi giục dân chúng xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jêsus. Tổng đốc lại hỏi: “Trong hai người nầy các ngươi muốn ta tha ai?” Họ trả lời: “Ba-ra-ba.” Phi-lát nói: “Vậy ta phải xử thế nào với Jêsus gọi là Christ?” Họ đồng loạt trả lời: “Đóng đinh nó trên cây thập tự!” Tổng đốc hỏi: “Người nầy đã làm điều ác gì?” Nhưng họ lại la lớn hơn: “Đóng đinh nó trên cây thập tự!” Vì vậy, khi Phi-lát thấy mình chẳng làm được gì, lại còn có thể nẩy sinh bạo động, nên lấy nước và rửa tay trước dân chúng, rồi nói: “Ta vô tội về huyết của người nầy; đó là việc của các ngươi.” Cả dân chúng đều trả lời: “Xin huyết của nó đổ trên chúng tôi và con cháu chúng tôi!” Vậy Phi-lát tha Ba-ra-ba cho họ, và đánh đòn Đức Chúa Jêsus, rồi giao Ngài để đóng đinh vào thập tự giá. Sau đó, lính của tổng đốc đem Đức Chúa Jêsus vào tư dinh tổng đốc và tập trung cả đội binh chung quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra và khoác cho Ngài một chiếc áo điều, đan một chiếc mão gai và đội trên đầu Ngài, rồi đặt một cây sậy trong tay phải Ngài. Chúng quỳ trước mặt Ngài, nhạo báng rằng: “Lạy Vua dân Do Thái!” Chúng khạc nhổ trên Ngài, lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài. Sau khi đã chế nhạo Ngài, chúng lột áo điều ra, mặc áo của Ngài vào, rồi giải đi để đóng đinh vào thập tự giá. Lúc đi ra, chúng gặp một người Sy-ren tên là Si-môn, và bắt người nầy vác thập tự giá của Đức Chúa Jêsus. Khi đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, có nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu hòa với mật đắng; nhưng khi đã nếm, thì Ngài không uống. Sau khi đã đóng đinh Ngài vào thập tự giá, chúng bắt thăm chia nhau y phục của Ngài. Rồi chúng ngồi đó canh giữ Ngài. Phía trên đầu Ngài có để một cáo trạng ghi rằng: “ĐÂY LÀ JÊSUS, VUA DÂN DO THÁI.” Lúc ấy, có hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài: một tên ở bên phải, một tên bên trái. Những kẻ đi qua đều chế giễu, lắc đầu và nói: “Ngươi là người có thể phá đền thờ và xây lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi thập tự giá đi!” Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão cũng chế nhạo Ngài rằng: “Nó đã cứu người khác mà không thể tự cứu chính mình. Nó là vua Y-sơ-ra-ên mà! Bây giờ hãy để nó xuống khỏi thập tự giá đi thì chúng ta sẽ tin ngay. Nó tin cậy Đức Chúa Trời. Nếu Ngài yêu thương nó thì bây giờ hãy để Ngài giải cứu nó; vì nó nói: ‘Ta là Con Đức Chúa Trời.’ ” Hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng mắng nhiếc Ngài như vậy. Từ giữa trưa đến ba giờ chiều, bóng tối bao trùm khắp đất. Khoảng ba giờ chiều, Đức Chúa Jêsus kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni?” nghĩa là: “Đức Chúa Trời của con! Đức Chúa Trời của con! Sao Ngài lìa bỏ con?” Nghe vậy, vài người đứng gần đó nói: “Người nầy gọi Ê-li.” Một người trong bọn họ liền chạy đi lấy một miếng bọt biển thấm đầy giấm, để trên đầu cây sậy và đưa cho Ngài uống. Nhưng các kẻ khác lại bảo: “Hãy đợi, xem Ê-li có đến giải cứu nó không.” Đức Chúa Jêsus kêu một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn. Và kìa, bức màn bên trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới, đất rúng động, đá tảng vỡ ra; các mồ mả cũng mở tung, nhiều thi thể của các thánh đã qua đời được sống lại và ra khỏi mộ. Sau khi Đức Chúa Jêsus sống lại, các thánh ấy đi vào thành thánh và hiện ra cho nhiều người. Khi viên đội trưởng và quân lính canh giữ Đức Chúa Jêsus, thấy đất rúng động cùng những gì đã xảy ra thì vô cùng kinh hãi và nói: “Thật, Người nầy là Con Đức Chúa Trời.” Tại đó có nhiều phụ nữ đứng nhìn từ xa. Họ là những người đã theo Đức Chúa Jêsus từ miền Ga-li-lê, để phục vụ Ngài. Trong số nầy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ và Giô-sép, cùng với mẹ của hai con trai Xê-bê-đê.

Ma-thi-ơ 27:1-56 KTHD (Kinh Thánh Hiện Đại)

Trời vừa sáng, các thầy trưởng tế và các trưởng lão bàn định kế hoạch giết Chúa Giê-xu. Họ xiềng Ngài thật chặt rồi giải qua Phi-lát, tổng trấn La Mã. Khi Giu-đa, người phản Chúa, thấy Chúa bị kết án nặng nề, thì hối hận. Ông liền đem ba mươi miếng bạc trả lại các thầy trưởng tế và các trưởng lão. Giu-đa than thở: “Tôi có tội, vì phản bội người vô tội!” Họ lạnh lùng đáp: “Mặc anh chứ! Việc ấy liên hệ gì đến chúng tôi?” Giu-đa ném bạc vào trong Đền Thờ rồi ra ngoài thắt cổ chết. Các thầy trưởng tế lượm bạc lên, bảo nhau: “Bạc này dính dấp máu người, không được để trong kho báu của Đền Thờ.” Họ quyết định dùng số bạc mua đám đất của thợ gốm để làm nghĩa trang chôn người nước ngoài. Vì thế, người ta gọi đám đất đó là Cánh Đồng Máu. Việc xảy ra đúng theo lời Tiên tri Giê-rê-mi: “Họ lấy ba mươi miếng bạc, là giá người Ít-ra-ên định cho một người, và dùng số bạc mua cánh đồng của thợ gốm, như lời Chúa Hằng Hữu truyền bảo tôi.” Chúa Giê-xu đứng trước Phi-lát, tổng trấn La Mã. Tổng trấn hỏi: “Anh có phải là Vua người Do Thái không?” Chúa Giê-xu đáp: “Ông đã nói điều đó.” Nhưng khi các thầy trưởng tế và các trưởng lão tranh nhau vu cáo, Chúa Giê-xu vẫn im lặng. Phi-lát nhắc: “Anh không nghe họ tố cáo anh đủ điều đó sao?” Nhưng Chúa Giê-xu vẫn im lặng, khiến tổng trấn vô cùng ngạc nhiên. Hằng năm, đến Lễ Vượt Qua, tổng trấn có lệ tha một tử tù theo lời thỉnh cầu của dân chúng. Năm ấy, có một phạm nhân nổi tiếng tên Ba-ra-ba. Khi thấy dân chúng tụ tập đông đảo trước dinh, Phi-lát hỏi: “Các anh muốn ta tha ai? Ba-ra-ba hay Giê-xu còn gọi là Đấng Mết-si-a?” (Vì Phi-lát biết rõ họ bắt nộp Chúa Giê-xu chỉ vì lòng ganh ghét). Giữa lúc Phi-lát đang ngồi xử án, vợ ông sai người đến dặn: “Đừng động đến người vô tội đó, vì đêm qua tôi có một cơn ác mộng kinh khiếp về người.” Nhưng các thầy trưởng tế và các trưởng lão sách động quần chúng xin Phi-lát phóng thích Ba-ra-ba và xử tử Chúa Giê-xu. Tổng trấn hỏi lại: “Trong hai người, các anh muốn ta tha ai?” Dân chúng đáp: “Ba-ra-ba!” Phi-lát hỏi tiếp: “Vậy ta phải làm gì với Giê-xu còn gọi là Đấng Mết-si-a?” Họ la lớn: “Đóng đinh hắn!” Phi-lát hỏi: “Tại sao? Người phạm tội gì?” Nhưng họ gầm thét: “Đóng đinh hắn trên cây thập tự!” Phi-lát thấy mình không kiểm soát nổi dân chúng, cuộc náo loạn sắp bùng nổ, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt mọi người và tuyên bố: “Ta vô tội về máu của Người này. Trách nhiệm về phần các anh!” Cả đoàn dân đều thét lên: “Cứ đòi nợ máu ấy nơi chúng tôi và con cháu chúng tôi!” Vậy, Phi-lát phóng thích Ba-ra-ba cho họ, đồng thời sai đánh Chúa Giê-xu rồi giao cho lính đem đóng đinh trên cây thập tự. Quân lính La Mã giải Chúa Giê-xu vào dinh tổng trấn, rồi tập họp cả đại đội vây quanh Ngài. Họ lột áo rồi khoác cho Ngài tấm áo choàng màu tía. Họ bện chiếc mão bằng gai đội lên đầu Chúa và đặt vào tay phải Ngài một cây gậy bằng sậy. Rồi họ quỳ xuống trước mặt Ngài, chế giễu: “Lạy Vua người Do Thái!” Họ lại khạc nhổ vào mặt Chúa, lấy gậy đập lên đầu Ngài. Chế giễu xong, họ cởi áo choàng ra, mặc áo lại cho Chúa rồi dẫn Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự. Vừa lên đường, quân lính thấy Si-môn, người xứ Ly-bi, liền bắt anh vác cây thập tự cho Chúa. Đoàn người tiến lên đồi Gô-gô-tha (nghĩa là đồi Sọ). Họ cho Chúa uống rượu thuốc để xoa dịu cơn đau, nhưng Ngài nếm qua rồi không chịu uống. Quân lính đóng đinh Chúa trên cây thập tự. Họ gieo súc sắc chia nhau bộ áo của Ngài, rồi ngồi canh gác chung quanh cây thập tự. Họ treo trên đầu Ngài tấm bảng ghi tội trạng: “Đây là Giê-xu, Vua người Do Thái.” Bọn lính cũng đóng đinh hai tướng cướp trên cây thập tự, một tên bên phải, một tên bên trái Chúa. Khách qua đường lắc đầu, sỉ nhục Chúa: “Anh đòi phá nát Đền Thờ rồi xây lại trong ba ngày, sao không tự giải cứu đi! Nếu anh là Con Đức Chúa Trời, sao không xuống khỏi cây thập tự đi!” Các thầy trưởng tế, thầy dạy luật, và các trưởng lão cũng mỉa mai: “Nó cứu người khác giỏi lắm mà cứu mình không nổi! Vua người Do Thái hả? Phải xuống khỏi cây thập tự chúng ta mới tin! Nó tin cậy Đức Chúa Trời, lại tự xưng là Con Đức Chúa Trời. Nếu Ngài nhìn nhận nó, hẳn Ngài phải cứu nó!” Hai tướng cướp bị đóng đinh bên cạnh Chúa cũng hùa theo sỉ nhục Ngài. Từ trưa đến 3 giờ chiều, khắp nơi đều tối đen như mực. Lúc ba giờ, Chúa Giê-xu kêu lớn: “Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni?” nghĩa là: “Đức Chúa Trời ơi! Đức Chúa Trời ơi! Sao Ngài lìa bỏ Con?” Nghe tiếng kêu, mấy người đứng gần bảo: “Này, hắn gọi Ê-li!” Một người chạy đi lấy bông đá, tẩm rượu chua, buộc vào đầu cây gậy đưa lên cho Chúa nhấm. Những người khác lại bảo: “Ta chờ xem Ê-li có đến cứu nó không!” Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi tắt hơi. Lập tức, bức màn trong Đền Thờ bị xé đôi từ trên xuống dưới. Đất rúng động dữ dội, đá lớn vỡ ra. Các cửa mộ mở tung và nhiều người thánh đã chết được sống lại. Họ ra khỏi mộ, đợi đến khi Chúa sống lại mới vào thành thánh Giê-ru-sa-lem xuất hiện cho nhiều người xem thấy. Viên đại đội trưởng cũng như quân lính La Mã đang canh giữ Chúa thấy cơn động đất và các diễn biến ấy, đều khiếp sợ và nhìn nhận: “Người này thật đúng là Con Đức Chúa Trời!” Nhóm phụ nữ theo phục vụ Chúa từ xứ Ga-li-lê, đều đứng từ xa mà nhìn. Trong số ấy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri (mẹ của Gia-cơ và Giô-sép), và bà Xê-bê-đê, mẹ Gia-cơ và Giăng.

Ma-thi-ơ 27:1-56 BPT (Thánh Kinh: Bản Phổ thông)

Sáng sớm hôm sau, tất cả các trưởng tế và các bô lão trong dân chúng họp lại quyết định giết Ngài. Họ trói Ngài lại, giải qua cho Phi-lát là quan tổng đốc. Giu-đa, người trao Ngài vào tay kẻ thù, thấy chúng quyết định giết Ngài thì vô cùng hối hận. Hắn liền lấy ba mươi đồng bạc đem trả lại cho các trưởng tế và bô lão, và bảo họ, “Tôi đã phạm tội, vì trao cho các ông một người vô tội.” Các nhà lãnh đạo trả lời, “Chuyện ấy có liên can gì đến chúng tôi đâu? Đó là chuyện của anh, kệ anh.” Giu-đa liền ném tiền lại vào đền thờ, rồi đi ra ngoài treo cổ tự tử. Các trưởng tế lượm lại các đồng bạc trong đền thờ và bảo nhau, “Luật chúng ta không cho phép giữ tiền nầy chung với tiền dâng hiến trong đền thờ, vì tiền nầy đã được trả cho cái chết của một mạng người.” Nên họ quyết định dùng tiền ấy mua ruộng của Thợ Gốm để chôn cất những người ngoại quốc chết ở Giê-ru-sa-lem. Do đó mà đến nay ruộng ấy vẫn được gọi là Ruộng Máu. Như thế để hoàn thành lời tiên tri Giê-rê-mi nói rằng: “Chúng lấy ba mươi đồng bạc. Đó là giá dân Ít-ra-en định cho Ngài, chúng đánh giá Ngài thấp như thế đó. Chúng dùng tiền ấy để mua ruộng thợ gốm theo như lời Thượng Đế truyền cho ta.” Chúa Giê-xu đứng trước mặt Phi-lát, quan tổng đốc. Phi-lát hỏi Ngài, “Anh có phải là vua dân Do-thái không?” Chúa Giê-xu đáp, “Quan nói đúng.” Trong khi các giới trưởng tế và các bô lão hung hăng tố cáo Ngài thì Chúa Giê-xu làm thinh. Nên Phi-lát hỏi, “Anh không nghe thấy họ tố cáo anh đủ điều sao?” Nhưng Chúa Giê-xu không trả lời tiếng nào khiến Phi-lát vô cùng ngạc nhiên. Mỗi năm vào dịp lễ Vượt Qua, quan tổng đốc có lệ phóng thích một tù nhân tùy dân chọn. Lúc đó có tên Ba-ra-ba đang ngồi tù. Hắn ta nổi tiếng gian ác. Khi dân chúng tụ tập lại tại dinh tổng đốc thì Phi-lát hỏi, “Các anh muốn tôi tha ai: Ba-ra-ba hay là Giê-xu gọi là Đấng Cứu Thế?” Vì Phi-lát biết rõ sở dĩ chúng giải Chúa Giê-xu đến cho mình chỉ vì ganh ghét mà thôi. Trong khi Phi-lát đang ngồi nơi ghế xử án thì vợ Phi-lát cho người ra nhắn: “Đừng đụng đến người vô tội ấy. Vì ông ta mà hôm nay em thấy ác mộng.” Nhưng các giới trưởng tế và bô lão xúi giục dân chúng xin thả Ba-ra-ba và xử tử Chúa Giê-xu. Phi-lát hỏi, “Trong tay tôi có Ba-ra-ba và ông Giê-xu. Các anh muốn tôi thả người nào?” Dân chúng la lên, “Thả Ba-ra-ba.” Phi-lát hỏi chúng, “Còn Giê-xu gọi là Đấng Cứu Thế thì tôi phải xử làm sao đây?” Chúng đồng thanh đáp, “Đóng đinh hắn đi!” Phi-lát hỏi lại, “Tại sao? Người nầy đã làm điều gì quấy?” Nhưng chúng lại gào thét lớn hơn nữa, “Đóng đinh hắn đi!” Khi Phi-lát thấy mình bất lực mà quần chúng sắp nổi loạn, liền lấy nước rửa tay trước mặt họ và bảo, “Tôi hoàn toàn vô tội về cái chết của người nầy. Mấy anh gây ra cái chết ấy!” Tất cả dân chúng đồng thanh đáp, “Chúng tôi và con cháu chúng tôi chịu trách nhiệm về cái chết của người nầy.” Phi-lát liền cho phóng thích Ba-ra-ba. Nhưng ra lệnh đánh đòn Chúa Giê-xu rồi giao Ngài cho đám lính hầu mang đi đóng đinh trên thập tự giá. Bọn lính hầu của quan tổng đốc đem Chúa Giê-xu vào trong dinh, rồi chúng tập họp cả tiểu đoàn lại quanh Ngài. Chúng cởi áo Ngài ra và mặc cho Ngài một áo dài màu đỏ. Chúng đan một cái mão bằng nhành gai đội trên đầu Ngài và cho Ngài cầm một cây gậy. Rồi chúng chế giễu Ngài bằng cách giả vờ bái lạy truớc mặt Ngài và nói, “Muôn tâu, vua dân Do-thái!” Chúng nhổ trên Ngài rồi lấy gậy của Ngài đập đầu Ngài. Sau khi đã chế giễu Ngài, chúng cởi áo dài ra, mặc áo lại cho Ngài rồi mang đi đóng đinh. Trong khi bọn lính hầu đang đi ra khỏi thành với Chúa Giê-xu, thì chúng gặp một người tên Xi-môn, xứ Xi-ren, liền bắt ông ta vác thập tự thế cho Chúa Giê-xu. Chúng đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ. Bọn lính cho Chúa Giê-xu uống rượu trộn với mật đắng. Ngài nếm rượu nhưng không chịu uống. Sau khi đóng đinh Ngài, bọn lính bắt thăm xem ai được lấy quần áo Ngài. Chúng cứ đứng đó nhìn Ngài. Chúng làm một tấm bảng treo trên đầu Ngài với bản án như sau: đâY Là GIê-XU, VUA DâN DO-THáI. Có hai tên cướp cũng bị đóng đinh cùng với Ngài, một tên bên phải, một tên bên trái. Người qua kẻ lại sỉ nhục Ngài và lắc đầu. Chúng nói, “Ê! Anh bảo anh có thể phá sập đền thờ rồi xây lại trong ba ngày. Hãy tự cứu mình đi! Nếu anh thật là con Thượng Đế thì hãy nhảy xuống khỏi cây thập tự đi!” Các giới trưởng tế, các giáo sư luật và các bô lão cũng chế giễu Ngài. Họ bảo, “Hắn cứu người khác mà cứu mình không được! Hắn bảo hắn là vua Ít-ra-en! Nếu hắn là vua thì hãy nhảy xuống khỏi cây thập tự đi thì chúng ta mới tin. Hắn tin cậy Thượng Đế thì hãy để Thượng Đế đến cứu hắn, nếu Thượng Đế thật sự cần hắn. Chính hắn đã từng tuyên bố, ‘Ta là Con Thượng Đế.’” Hai tên cướp bị đóng đinh hai bên Ngài cũng nhiếc móc Ngài. Đến trưa cả xứ đều tối mịt, hiện tượng ấy kéo dài đến ba tiếng đồng hồ. Vào khoảng ba giờ chiều, Chúa Giê-xu kêu lớn, “Ê-li, Ê-li, la-ma xa-bách-tha-ni?” Nghĩa là “Thượng Đế tôi ơi, Thượng Đế tôi ơi, sao Ngài từ bỏ tôi?” Có mấy người đứng đó nghe vậy bảo nhau, “Xem kìa, hắn đang kêu Ê-li.” Liền có người chạy đi lấy một miếng bông đá nhúng đầy giấm, cột vào một cái que đưa lên cho Ngài uống. Nhưng mấy người khác cản, “Cứ để yên xem Ê-li có đến cứu nó không.” Nhưng Chúa Giê-xu kêu lên một tiếng lớn nữa rồi tắt thở. Ngay lúc ấy bức màn trong đền thờ bị xé toạc làm đôi từ trên xuống dưới. Đất rung chuyển mạnh và các tảng đá lớn bể vụn. Mồ mả mở ra và nhiều con dân thánh của Thượng Đế đã qua đời từ lâu sống lại. Họ ra khỏi mồ sau khi Chúa Giê-xu sống lại và đi vào thành thánh, xuất hiện cho nhiều người thấy. Khi viên sĩ quan và toán lính canh giữ Chúa Giê-xu thấy động đất và những hiện tượng khác, họ hoảng hốt bảo nhau, “Ông nầy quả là Con Thượng Đế!” Nhiều phụ nữ theo giúp đỡ Chúa Giê-xu từ Ga-li-lê đứng cách xa cây thập tự mà nhìn. Trong số đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ và Giô-xép cùng với mẹ của Gia-cơ và Giăng.

Ma-thi-ơ 27:1-56 NVB (Kinh Thánh Bản Dịch Mới)

Sáng sớm hôm sau tất cả các thượng tế và trưởng lão trong dân bàn mưu để giết Đức Giê-su. Họ trói Ngài và giải nộp cho quan thống đốc Phi-lát. Khi ấy, Giu-đa, kẻ phản Chúa, thấy Ngài bị lên án, ông hối hận; ông đem ba chục miếng bạc trả lại cho các thượng tế và trưởng lão, và nói: “Tôi đã phạm tội phản bội, làm người vô tội phải đổ máu.” Nhưng họ đáp: “Việc đó can hệ gì đến chúng ta? Việc của anh mặc anh.” Giu-đa ném bạc vào đền thờ, trở ra và đi thắt cổ. Nhưng các thượng tế lượm các miếng bạc ấy rồi nói: “Không nên bỏ bạc này vào kho của đền thờ vì đây là tiền máu.” Họ bàn với nhau dùng số bạc ấy mua thửa ruộng của người thợ gốm để làm nơi chôn cất ngoại kiều. Cho nên đến nay ruộng ấy vẫn được gọi là Ruộng Máu. Như thế lời tiên tri Giê-rê-mi được ứng nghiệm: “Họ đã lấy ba chục miếng bạc, là giá con cái Y-sơ-ra-ên đã định trên Ngài và đem bạc mua thửa ruộng của người thợ gốm như Chúa đã truyền cho Ta!” Đức Giê-su đứng trước quan thống đốc. Quan hỏi Ngài: “Anh có phải là vua dân Do Thái không?” Đức Giê-su đáp: “Như ông nói đó.” Trong lúc bị các thượng tế và trưởng lão tố cáo, Ngài không đối đáp gì cả. Nên Phi-lát hỏi Ngài: “Anh không nghe bao nhiêu lời chứng tố cáo anh sao?” Nhưng Ngài không đáp một lời nào, đến nỗi quan thống đốc rất ngạc nhiên. Vào dịp lễ quan thống đốc có lệ ân xá một tù nhân tùy theo ý dân chúng. Lúc đó có một tù nhân khét tiếng tên Ba-ra-ba. Khi dân chúng tụ tập, Phi-lát hỏi: “Các người muốn ta tha ai, Ba-ra-ba hay Giê-su, người mệnh danh là Chúa Cứu Thế?” Vì ông biết rõ bởi lòng ganh ghét họ đã nộp Ngài. Khi Phi-lát đương ngồi xử án, vợ ông sai người đến nói: “Đừng đụng đến người công chính đó vì hôm nay tôi bị khổ sở nhiều trong giấc chiêm bao về người đó.” Nhưng các thượng tế và các trưởng lão xúi giục dân chúng xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Giê-su. Quan thống đốc lại hỏi đám dân: “Trong hai người, các người muốn ta tha ai?” Họ đáp: “Ba-ra-ba.” Phi-lát nói với họ: “Vậy thì ta sẽ xử thế nào với Giê-su, người mệnh danh là Chúa Cứu Thế!” Tất cả đều đáp: “Hãy đóng đinh nó!” Ông hỏi: “Tại sao? Người này đã làm điều ác gì?” Họ lại càng la lớn hơn nữa: “Hãy đóng đinh nó!” Phi-lát thấy không làm được gì, mà lại gây thêm náo động. Ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng rồi bảo: “Ta vô tội về máu người này, các người phải chịu trách nhiệm lấy!” Cả dân chúng đáp: “Nguyện máu của hắn đổ trên đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi!” Phi-lát liền tha Ba-ra-ba cho họ. Sau khi cho đánh đòn Đức Giê-su, ông giao Ngài cho họ đóng đinh. Lúc đó lính của quan thống đốc đem Đức Giê-su vào công đường, cả đội quân bao quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra và mặc cho Ngài một chiếc áo đỏ tía. Chúng đan một mão bằng gai, đội lên đầu Ngài và đặt vào tay phải Ngài một cây sậy rồi quỳ xuống trước mặt Ngài và chế nhạo: “Hoan hô, Vua dân Do Thái!” Chúng khạc nhổ trên Ngài và lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài. Chế nhạo Ngài xong, chúng lột áo đỏ tía ra và mặc áo lại cho Ngài, rồi dẫn đi đóng đinh. Khi đi ra họ gặp một người quê ở Si-ren tên là Si-môn, chúng bắt ông này vác thập tự giá cho Ngài. Đến một nơi tên Gô-gô-tha, nghĩa là “Đồi Sọ;” chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, Ngài nếm thử nhưng không uống. Sau khi đóng đinh Ngài, chúng bắt thăm chia nhau áo Ngài. Rồi chúng ngồi đó canh giữ Ngài. Phía trên đầu Ngài chúng để một bản án ghi: “Đây là Giê-su, Vua dân Do Thái!” Lúc đó có hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài, một tên bên phải, một tên bên trái. Những người qua lại phỉ báng Ngài, lắc đầu nói rằng: “Này, anh sẽ phá hủy đền thờ rồi xây lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi! Nếu anh là Con Đức Chúa Trời hãy xuống khỏi thập tự giá đi!” Các thượng tế, chuyên gia kinh luật và trưởng lão cũng nhạo báng rằng: “Nó cứu người khác nhưng không thể tự cứu mình, nếu nó là vua Y-sơ-ra-ên, hãy xuống khỏi thập tự giá đi rồi chúng ta sẽ tin nó. Nó tin cậy Đức Chúa Trời, hãy để Đức Chúa Trời giải cứu nó đi nếu Ngài muốn, vì nó tuyên bố rằng: ‘Ta là Con Đức Chúa Trời.’ ” Hai tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng nhục mạ Ngài. Từ trưa đến ba giờ chiều trời trở nên tối tăm khắp trên đất. Khoảng ba giờ chiều Đức Giê-su kêu lên lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, la-ma sa-bách-tha-ni,” nghĩa là: “Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?” Vài người đứng gần đó nghe tiếng Ngài, họ nói: “Người này gọi tiên tri Ê-li.” Một người trong đám họ liền chạy đi lấy miếng bọt biển nhúng đầy giấm, để trên đầu cây sậy rồi đưa cho Ngài uống. Nhưng những người khác lại bảo: “Hãy khoan, để xem Ê-li có đến cứu nó không?” Đức Giê-su lại kêu lên một tiếng lớn và trút linh hồn. Kìa, bức màn trong đền thờ bị xé ra làm đôi từ trên xuống dưới; đất rúng động và đá nứt ra. Mồ mả mở ra, nhiều xác của các thánh đã chết được sống lại, ra khỏi mộ. Sau khi Đức Giê-su sống lại, họ đi vào thành thánh hiện ra cho nhiều người. Khi viên đội trưởng và những lính canh Đức Giê-su thấy đất rúng động và những điều xảy ra, họ kinh sợ, nói: “Người này thật là Con Đức Chúa Trời!” Cũng có nhiều phụ nữ ở đó nhìn xem Ngài từ đằng xa. Họ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê để phục vụ Ngài. Trong số các bà ấy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ và Giô-sép, và mẹ của hai con trai Xê-bê-đê.

Ma-thi-ơ 27:1-56 BD2011 (Kinh Thánh Tiếng Việt, Bản Dịch 2011)

Sáng sớm hôm sau tất cả trưởng tế và trưởng lão trong dân đã bàn với nhau chống lại Đức Chúa Jesus để kết án tử hình Ngài. Họ trói Ngài lại, dẫn Ngài đi, và đem nộp Ngài cho Tổng Trấn Phi-lát. Khi Giu-đa, kẻ phản Ngài, thấy Đức Chúa Jesus đã bị kết án, hắn hối hận và đem ba mươi miếng bạc trả lại cho các trưởng tế và các trưởng lão. Hắn nói, “Tôi có tội vì đã phản nộp máu vô tội.” Nhưng họ đáp, “Việc ấy có can hệ gì đến chúng tôi. Đó là chuyện của anh.” Giu-đa đem số bạc đó ném vào đền thờ rồi bỏ đi; hắn đi ra và thắt cổ tự tử. Nhưng các trưởng tế lấy số bạc đó và nói, “Số bạc này không thể bỏ vào kho đền thờ được, vì đó là tiền máu.” Sau khi bàn luận với nhau, họ dùng số bạc đó mua cánh đồng của người thợ gốm, để làm nghĩa trang chôn cất các kiều dân. Vì vậy cánh đồng ấy vẫn còn được gọi là “Cánh Đồng Máu” cho đến ngày nay. Thế là ứng nghiệm những gì Tiên Tri Giê-rê-mi đã nói, “Họ đã lấy ba mươi miếng bạc, là giá đã định cho một người, một người mà con cái I-sơ-ra-ên đã định giá. Họ lấy bạc đó mua cánh đồng của người thợ gốm, như Chúa đã truyền cho tôi.” Bấy giờ Đức Chúa Jesus đứng trước quan tổng trấn. Quan tổng trấn hỏi Ngài, “Ngươi là Vua dân Do-thái phải không?” Đức Chúa Jesus trả lời ông, “Chính ngươi đã nói thế.” Nhưng khi các trưởng tế và các trưởng lão tố cáo Ngài, Ngài chẳng trả lời tiếng nào. Phi-lát nói với Ngài, “Ngươi không nghe bao nhiêu người tố cáo ngươi sao?” Nhưng Ngài không trả lời lấy một tiếng, đến nỗi quan tổng trấn rất đỗi ngạc nhiên. Bấy giờ là dịp lễ, và cứ mỗi dịp lễ quan tổng trấn có thông lệ phóng thích cho dân một tù nhân, bất cứ người nào họ muốn. Lúc đó có một tù phạm khét tiếng tên Ba-ra-ba. Vậy sau khi dân đã tụ họp, Phi-lát nói với họ, “Các ngươi muốn ta tha ai? Ba-ra-ba hay Jesus người được gọi là Đấng Christ?” Vì ông biết do lòng ghen ghét mà họ đã nộp Ngài cho ông. Đang khi ông ngồi xử án, vợ ông gởi lời đến nói, “Xin đừng làm gì đụng đến người công chính đó, vì trong chiêm bao đêm qua, tôi đã khổ nhiều về người ấy.” Khi ấy các trưởng tế và các trưởng lão xúi dân xin tha cho Ba-ra-ba và yêu cầu giết Đức Chúa Jesus. Quan tổng trấn hỏi họ, “Trong hai người này, các ngươi muốn ta tha ai?” Họ đáp, “Ba-ra-ba.” Phi-lát hỏi họ, “Vậy ta phải làm gì với Jesus người được gọi là Đấng Christ?” Tất cả họ đều nói, “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự!” Phi-lát lại nói, “Tại sao? Người này đã phạm tội gì?” Nhưng họ càng la lớn hơn, “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự!” Phi-lát thấy cứ tranh cãi với họ sẽ không đi tới đâu, và cuộc nổi loạn có thể xảy ra, ông lấy nước, rửa tay trước mặt đám đông, và nói, “Ta vô tội về máu của người này; các ngươi phải chịu trách nhiệm lấy.” Bấy giờ cả đám đông đáp lại, “Hãy để máu của hắn đổ trên chúng tôi và trên con cháu chúng tôi.” Vậy Phi-lát phóng thích Ba-ra-ba cho họ. Sau khi cho dùng roi đánh Đức Chúa Jesus, ông trao Ngài cho họ để đem đóng đinh trên cây thập tự. Bấy giờ quân lính của quan tổng trấn đem Đức Chúa Jesus vào trong bản doanh và tập họp cả đơn vị quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra, rồi khoác lên Ngài một chiếc áo choàng màu đỏ điều. Chúng lại kết một vương miện bằng gai, rồi đội nó lên đầu Ngài. Chúng cũng lấy một cây sậy đặt vào tay phải Ngài, rồi quỳ xuống trước mặt Ngài và chế nhạo rằng, “Vua dân Do-thái vạn tuế!” Chúng phun nhổ trên Ngài và lấy cây sậy đánh vào đầu Ngài. Sau khi đã chế nhạo Ngài, chúng cởi chiếc áo choàng màu đỏ điều ra và mặc áo của Ngài lại cho Ngài; rồi chúng dẫn Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự. Khi chúng đi ra, chúng gặp một người ở Sy-ren tên là Si-môn. Chúng bắt ông vác cây thập tự của Ngài. Khi chúng đến một nơi gọi là Gô-gô-tha, tức Đồi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng. Ngài nếm nhưng không uống. Sau khi đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự, chúng bắt thăm để chia nhau y phục Ngài, rồi ngồi đó canh giữ Ngài. Phía trên đầu Ngài, chúng treo một bảng ghi án Ngài rằng: “Đây là Jesus, Vua dân Do-thái.” Cũng có hai tên trộm cướp cùng bị đóng đinh với Ngài; một tên bên phải và một tên bên trái. Những ai qua lại đều mỉa mai Ngài, lắc đầu, và nói, “Ông là người muốn phá đền thờ và xây lại trong ba ngày đấy à. Hãy cứu lấy ông đi! Nếu ông là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự đi.” Tương tự, các trưởng tế, các thầy dạy giáo luật, và các trưởng lão cũng chế nhạo Ngài, “Hắn đã cứu được người khác mà không cứu được chính mình. Hắn là Vua của I-sơ-ra-ên mà. Bây giờ nếu hắn xuống khỏi cây thập tự được, chúng ta sẽ tin hắn ngay. Hắn tin cậy Đức Chúa Trời thì bây giờ hãy để Ngài cứu hắn nếu Ngài muốn cứu hắn, vì hắn đã nói, ‘Ta là Con Đức Chúa Trời.’” Hai tên trộm cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng nhiếc móc Ngài như vậy. Từ mười hai giờ trưa đến ba giờ chiều, cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng ba giờ chiều, Đức Chúa Jesus kêu lớn tiếng, “Ê-li! Ê-li! Lê-ma Sa-bách-tha-ni?” Nghĩa là, “Đức Chúa Trời của con ôi! Đức Chúa Trời của con ôi! Sao Ngài lìa bỏ con?” Có mấy người đứng gần đó nghe thế bèn nói, “Ông ấy đang gọi Ê-li.” Một người trong bọn họ vội chạy lấy một miếng xốp, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy, và đưa cho Ngài uống. Nhưng những người khác lại bảo, “Cứ để vậy, xem Ê-li có đến cứu ông ấy không.” Bấy giờ Đức Chúa Jesus kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn. Kìa, bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai, từ trên xuống dưới. Đất rung, đá nứt, các mồ mả mở ra, và thây của nhiều thánh đồ đã an giấc sống lại. Sau khi Ngài đã sống lại, họ ra khỏi phần mộ, vào trong thành thánh, và hiện ra cho nhiều người. Bấy giờ viên đại đội trưởng và quân lính ở với ông để canh giữ Đức Chúa Jesus thấy động đất và những việc đã xảy ra, họ rất sợ hãi và nói, “Người này quả thật là Con Đức Chúa Trời.” Cũng có nhiều phụ nữ ở đó; họ đứng từ xa mà nhìn. Họ đã từ Ga-li-lê đi theo Đức Chúa Jesus để phục vụ Ngài. Trong số những người ấy có Ma-ry Mạc-đa-len, Ma-ry mẹ của Gia-cơ và Giô-sép, và mẹ của các con Xê-bê-đê.