Giô-suê 15
VIE2010

Giô-suê 15

15
Địa phận của bộ tộc Giu-đa
1Phần đất mà bộ tộc Giu-đa bắt thăm được theo từng gia tộc, chạy về phía nam ranh giới Ê-đôm đến hoang mạc Xin ở miền cực nam. 2Ranh giới phía nam của họ chạy từ cuối Biển Muối, tức là từ vùng vịnh hướng về phía nam; 3và từ dốc Ạc-ráp-bim chạy dài xuống miền nam, đi ngang qua Xin, lên phía nam Ca-đe Ba-nê-a, đi ngang qua Hết-rôn, lên hướng Át-đa, vòng qua Cạt-ca, 4đi ngang về hướng Át-môn, nhập vào Suối Ai Cập và chạy đến tận biển. Đó sẽ là ranh giới phía nam của anh em. 5Ranh giới phía đông là từ Biển Chết#15:5 Nn: Biển Muối. cho đến cửa sông Giô-đanh. Ranh giới phía bắc chạy từ vùng vịnh nơi cửa sông Giô-đanh, 6đi lên Bết Hốt-la, trải qua phía bắc Bết A-ra-ba, và chạy đến hòn đá Bô-han, con trai của Ru-bên. 7Biên giới nầy chạy lên đến Đê-bia, từ thung lũng A-cô chạy về hướng bắc vòng qua Ghinh-ganh, đối diện dốc A-đu-mim về phía nam của thung lũng; rồi chạy dọc mé nước Ên Sê-mết và đến Ên Rô-ghên. 8Từ đó, ranh giới chạy lên gần thung lũng Bên Hi-nôm, dọc sườn đồi phía nam của Giê-bu, tức là Giê-ru-sa-lem. Kế đó, nó chạy lên cho đến đỉnh núi nằm đối diện thung lũng Hi-nôm về hướng tây, ở cuối phía bắc thung lũng Rê-pha-im. 9Ranh giới lại chạy từ đỉnh núi đến suối nước Nép-thô-ách, và kéo dài về hướng các thành của núi Ép-rôn; rồi chạy xuống đến Ba-la, là Ki-ri-át Giê-a-rim. 10Nó chạy vòng từ Ba-la qua hướng tây đến núi Sê-i-rơ, rồi bọc theo sườn phía bắc của núi Giê-a-rim, tức là Kê-sa-lôn, chạy xuống đến Bết Sê-mết và ngang qua Thim-na. 11Ranh giới nầy cứ chạy theo triền núi phía bắc Éc-rôn rồi vòng về Siếc-rôn, chạy qua núi Ba-la, thẳng đến Giáp-nê-ên, và dừng lại ở biển. 12Còn ranh giới phía tây là bờ Biển Lớn. Đó là ranh giới bao quanh con cháu Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.
Ca-lép chinh phục Hếp-rôn và Đê-bia
13Theo mệnh lệnh của Đức Giê-hô-va, Giô-suê cấp cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, một phần đất ở giữa người Giu-đa, là thành của A-ra-ba, cha A-nác. Đó là thành Hếp-rôn.#Quan 1:20. 14Ca-lép đuổi được ba con trai của A-nác, là Sê-sai, A-hi-man, và Tha-mai. 15Từ đó ông đi lên đánh dân thành Đê-bia. Đê-bia trước kia tên là Ki-ri-át Sê-phe. 16Ca-lép nói: “Ta sẽ gả con gái ta là Ạc-sa cho người nào đánh và chiếm lấy Ki-ri-át Sê-phe.” 17Ốt-ni-ên, con trai của Kê-na là em Ca-lép, chiếm được thành và Ca-lép gả con gái ông là Ạc-sa cho chàng làm vợ. 18Khi về với Ốt-ni-ên, nàng thuyết phục chàng xin cha nàng một thửa ruộng. Khi nàng xuống lừa, Ca-lép hỏi: “Con muốn điều gì?” 19Nàng thưa: “Xin cha ban cho con một món quà, vì cha đặt con nơi đất Nê-ghép, nên xin cha cũng cho con luôn mấy suối nước”. Ca-lép liền cho nàng các suối nước ở miền trên và miền dưới.
20Đó là sản nghiệp của bộ tộc Giu-đa, theo từng gia tộc của họ.
Danh sách các thành của Giu-đa
21Các thành ở cực nam của bộ tộc Giu-đa, gần biên giới Ê-đôm là: Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gua, 22Ki-na, Đi-mô-na, A-đê-a-đa, 23Kê-đe, Hát-so, Gít-nan, 24Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt, 25Hát-so Ha-đa-tha, Kê-ri-giốt Hết-rôn, tức là Hát-so, 26A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa, 27Hát-sa-ga-đa, Hết-môn, Bết Pha-lết, 28Hát-sa Su-anh, Bê-e Sê-ba, Bi-sốt-gia, 29Ba-la, Y-dim, Ê-xem, 30Ê-thô-lát, Kê-sinh, Họt-ma, 31Xiếc-lác, Mát-ma-na, San-sa-na, 32Lê-ba-ốt, Si-lim, A-in, và Rim-môn: tất cả là hai mươi chín thành với các làng mạc của chúng.
33Trong miền chân núi có: Ết-tha-ôn, Xô-rê-a, Át-na, 34Xa-nô-ách, Ên Ga-nim, Tháp-bu-ách, Ên-nam, 35Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca, 36Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, Ghê-đê-ra, và Ghê-đê-rô-tha-im: tất cả là mười bốn thành với các làng mạc của chúng.
37Cũng có Xê-nan, Ha-đa-sa, Mích-đanh Gát, 38Đi-lan, Mích-pê, Giốc-thê-ên, 39La-ki, Bốt-cát, Éc-lôn, 40Cáp-bôn, Lách-ma, Kít-lít, 41Ghê-đê-rốt, Bết Đa-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa: tất cả là mười sáu thành với các làng mạc của chúng.
42Líp-na, Ê-the, A-san, 43Díp-tách, Át-na, Nết-síp, 44Kê-i-la, Ạc-xíp, và Ma-rê-sa: tất cả là chín thành với các làng mạc của chúng.
45Éc-rôn, với các thị trấn và làng mạc của nó; 46từ Éc-rôn đến biển, tất cả các thành ở gần Ách-đốt cùng các làng mạc của chúng.
47Ách-đốt, các thị trấn và các làng mạc của nó; Ga-xa, các thị trấn và các làng mạc của nó, cho đến Suối Ai Cập và bờ Biển Lớn.
48Trong miền núi có: Sa-mia, Giạt-thia, Sô-cô, 49Đa-na, Ki-ri-át Sa-na, tức là Đê-bia, 50A-náp, Ết-thê-mô, A-nim, 51Gô-sen, Hô-lôn, Ghi-lô: tất cả là mười một thành cùng các làng mạc của chúng.
52A-ráp, Ru-ma, Ê-sê-an, 53Gia-num, Bết Tháp-bu-ách, A-phê-ca, 54Hum-ta, Ki-ri-át A-ra-ba, tức là Hếp-rôn, và Si-ô: tất cả là chín thành với các làng mạc của chúng.
55Ma-ôn, Cạt-mên, Xíp, Giu-ta, 56Gít-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-ách; 57Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na: tất cả là mười thành với các làng mạc của chúng.
58Hanh-hun, Bết Xu-rơ, Ghê-đô, 59Ma-a-rát, Bết A-nốt, và Ên-thê-côn: tất cả là sáu thành với các làng mạc của chúng.
60Ki-ri-át Ba-anh, tức là Ki-ri-át Giê-a-rim, và Ráp-ba: tất cả là hai thành với các làng mạc của chúng.
61Trong hoang mạc có Bết A-ra-ba, Mi-đin, Sê-ca-ca, 62Níp-san, Thành Muối, và Ên-ghê-đi: tất cả là sáu thành với các làng mạc của chúng.
63Người Giu-đa không đuổi được dân Giê-bu-sít ở tại Giê-ru-sa-lem nên dân Giê-bu-sít còn ở chung với người Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem cho đến ngày nay.#Quan 1:21; II Sa 5:6; I Sử 11:4.

© 2010 United Bible Societies. All rights reserved.

Learn More About Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010