Châm Ngôn 30
VIE2010

Châm Ngôn 30

30
Châm ngôn và lời cầu nguyện của A-gu-rơ
1Lời của A-gu-rơ con trai Gia-kê, châm ngôn mà người ấy nói cho Y-thi-ên và U-canh:
2Thật, ta ngu dốt hơn ai hết,
Ta không có sự thông sáng của con người.
3Ta chưa được học sự khôn ngoan,
Và chưa học biết tri thức về Đấng Thánh.
4Ai đã lên trời rồi lại xuống?
Ai đã góp gió trong đôi bàn tay?
Ai đã bọc nước trong áo?
Ai lập các giới hạn của đất?
Tên của Đấng ấy là gì,
Và tên con trai Đấng ấy là chi?
Nếu con biết, hãy nói đi!
5Mọi lời của Đức Chúa Trời đều được tinh luyện;
Ngài là cái khiên cho người nương cậy nơi Ngài.
6Đừng thêm gì vào lời Ngài,
Kẻo con bị Ngài quở trách,
Và bị kể là người nói dối chăng!
7Con cầu xin Chúa hai điều;
Xin Ngài đừng từ chối trước khi con chết:
8Xin khiến sự gian ác và lời dối trá cách xa con;
Đừng để con nghèo khổ hoặc giàu sang,
Xin cho con lương thực đủ dùng;
9Kẻo khi dư dật, con từ chối Chúa
Mà nói rằng: “Đức Giê-hô-va là ai?”
Hoặc khi con bị nghèo khổ mà đi trộm cắp,
Và làm ô danh Đức Chúa Trời của con chăng.
10Đừng vu khống đầy tớ với chủ nó,
Kẻo nó nguyền rủa và con phải mắc tội chăng.
11Có hạng người nguyền rủa cha mình
Cũng không chúc phước cho mẹ mình.
12Có hạng người cho là mình trong sạch,
Nhưng chưa được rửa sạch vết nhơ của mình.
13Có hạng người có cặp mắt kiêu hãnh,
Và mí mắt tự cao làm sao!
14Có hạng người có răng sắc như gươm,
Hàm răng bén như dao,
Để nuốt mất những người bần cùng khỏi đất,
Và những người nghèo túng khỏi loài người.
15Con đỉa có hai con gái,
Chúng kêu: “Hãy cho! Hãy cho!”
Có ba điều không bao giờ thỏa mãn,
Và bốn điều chẳng bao giờ nói: “Đủ rồi!”
16Đó là: Âm phủ, dạ hiếm muộn,
Đất khan nước, và lửa,
Chẳng bao giờ nói: “Đủ rồi!”
17Con mắt nhạo báng cha,
Khinh thường việc vâng lời mẹ,
Sẽ bị các con quạ nơi thung lũng móc đi,
Và các chim ưng con ăn nó.
18Có ba việc kỳ diệu quá đối với ta,
Và bốn điều mà ta không hiểu nổi:
19Đường chim ưng bay trên trời,
Lối rắn bò trên tảng đá,
Đường tàu chạy giữa biển,
Và đường tình ái giữa nam nữ.
20Đây là cách sống của người đàn bà ngoại tình:
Ăn xong, lau miệng,
Và nói: “Tôi có làm gì tội lỗi đâu!”
21Có ba điều làm cho trái đất rúng động,
Và bốn việc khiến nó không chịu nổi:
22Tên nô lệ được lên làm vua,
Kẻ ngu dại được no nê thức ăn,
23Người đàn bà dễ ghét lấy được chồng,
Và đứa tớ gái thay thế bà chủ mình.
24Có bốn loài vật nhỏ trên đất,
Nhưng rất mực khôn ngoan:
25Con kiến dù là loài yếu ớt,
Nhưng biết lo dự trữ thức ăn trong mùa hạ;
26Con thỏ rừng dù là loài không có sức lực,
Nhưng biết làm chỗ ở trong hốc đá;
27Loài cào cào dù không có vua chúa,
Nhưng bay ra thành đội ngũ;
28Con thằn lằn mà người ta lấy tay bắt được,
Vẫn ở trong cung vua.
29Ba con vật có dáng đi đẹp đẽ,
Và bốn loài có bước oai phong:
30Sư tử mạnh hơn hết trong các loài vật,
Chẳng lui bước trước bất cứ loài nào;
31Con gà trống oai vệ; con dê đực;
Và vua khi duyệt binh.
32Nếu con có dại dột mà tự cao tự đại,
Hoặc nếu con có âm mưu điều ác,
Hãy lấy tay che miệng lại.
33Ép sữa làm ra sữa đông,
Và đấm vào mũi làm cho phun máu;
Cũng vậy, chọc giận sinh ra điều tranh cãi.

© 2010 United Bible Societies. All rights reserved.

Learn More About Kinh Thánh Tiếng Việt Bản Hiệu Đính 2010