Gióp 39
VIE2010
39
Sự mầu nhiệm trong thế giới động vật
1-2 #39:1–41:25 Các câu có ghi chú trong ngoặc đơn là theo cách phân chương và câu của cổ bản Hê-bơ-rơ và hầu hết các bản dịch khác. Con có thể săn mồi cho sư tử,
Hay làm cho sư tử con thỏa cơn đói,
Khi chúng thu mình trong hang,
Hay rình rập trong bụi rậm?
3 Ai cung cấp thức ăn cho quạ,
Khi đám quạ con kêu cầu Đức Chúa Trời,
Và bay đó đây kiếm chẳng ra mồi?”
4 “Con có biết khi nào dê rừng sinh nở,
Và theo dõi lúc nào nai cái đẻ con không?
5 Con có thể tính số tháng chúng mang thai,
Và biết kỳ chúng sinh nở không?
6 Chúng ngồi xổm sinh đàn nai con,
Trút bỏ cơn đau đớn.
7 Đàn con nhỏ khỏe mạnh, lớn lên trong đồng nội;
Chúng lìa mẹ ra đi và không trở lại nữa.
8 Ai để cho lừa rừng tự do chạy nhảy?
Ai cởi trói cho chú lừa kia tung tăng?
9 Ta ban thảo nguyên cho nó làm nhà,
Đất mặn làm chỗ ở.
10 Nó tránh xa tiếng huyên náo của thị thành,
Không nghe tiếng la hét của người điều khiển.
11 Nó đi khắp núi đồi như đồng cỏ của nó,
Để tìm kiếm cây lá xanh tươi.
12 Bò rừng có chịu làm việc cho con,
Hay chịu ngủ suốt đêm bên máng cỏ của con không?
13 Con có thể lấy dây buộc nó vào luống cày,
Nó có chịu kéo bừa cho con trong thung lũng không?
14 Con có thể dựa vào sức vóc mạnh mẽ của nó,
Mà giao việc lao nhọc cho nó không?
15 Con có tin rằng nó sẽ trở lại,
Và đem ngũ cốc về sân đập lúa của con không?
16 Đà điểu vỗ cánh oai hùng,
Nhưng không có tình thương như chim hạc.
17 Vì nó bỏ trứng lại trên đất,
Mặc cho cát nóng ấp trứng,
18 Quên rằng chân người có thể giẫm lên,
Thú rừng có thể đạp nát.
19 Đà điểu tàn nhẫn với đàn con, như không phải con mình,
Không lo rằng công đẻ trứng của mình ra vô ích;
20 Vì Đức Chúa Trời khiến nó mất khôn ngoan,
Không chia phần hiểu biết cho nó.
21 Nhưng khi phóng chạy như bay,
Nó cười nhạo cả ngựa lẫn người cưỡi ngựa.
22 Có phải con ban sức mạnh cho ngựa,
Và khoác bờm lên cổ nó không?
23 Con có khiến nó nhảy như châu chấu,
Cất tiếng hí oai phong đáng sợ không?
24 Nó đào đất sâu trong thung lũng, tự hào về sức lực mình;
Xông pha trước binh đao.
25 Coi thường đe dọa, bất chấp hiểm nguy;
Không quay đầu lui gót trước mũi gươm.
26 Bên hông nó, bao đựng tên khua lách cách,
Giáo và lao sáng quắc.
27 Điên tiết lên, nó phóng nhanh như chớp,
Nghe tiếng kèn, nó không thể đứng yên.
28 Kèn vừa trỗi, nó liền hí lên inh ỏi,
Từ xa, nó đánh hơi mùi chinh chiến,
Nghe lệnh chỉ huy và tiếng hò xung trận.
29 Có phải nhờ sự khôn ngoan của con mà diều hâu bay vút lên,
Sải cánh hướng về phương nam?
30 Có phải con ra lệnh cho đại bàng
Bay vút lên tìm nơi cao làm tổ?
31 Lấy hốc đá làm nơi ở,
Vách núi cheo leo làm phòng tuyến an toàn.
32 Từ nơi cao đó, nó rình mồi,
Đôi mắt nhìn bao quát thật xa.
33 Đàn con nó quen hút máu,
Vì nơi nào có xác chết thì nó đến ngay.”
Lời đáp thứ nhất của Gióp
34 Đức Giê-hô-va tiếp tục phán với Gióp:
35 “Kẻ hay bắt bẻ dám tranh luận với Đấng Toàn Năng sao?
Người nào kiện cáo Đức Chúa Trời, hãy trả lời đi!”
36 Gióp thưa lại với Đức Giê-hô-va:
37 “Con vốn chẳng ra gì; con biết lấy lời nào để thưa với Chúa?
Con chỉ biết đưa tay che miệng.
38 Con đã nói một lần, con không thể lặp lại;
Lỡ nói đôi lần rồi, con nào dám nói gì hơn.”

© 2010 United Bible Societies. All rights reserved.

Learn More About Kinh Thánh Hiệu Đính 2010 - Revised Vietnamese Bible