Sáng Thế 11
VIE2010
11
Tháp Ba-bên
1Bấy giờ cả thế giới đều có cùng một ngôn ngữ và dùng chung các ngôn từ. 2Từ phương Đông, họ ra đi và gặp một đồng bằng trong đất Si-nê-a và định cư tại đó. 3Họ nói với nhau: “Nào, chúng ta hãy làm gạch và nung trong lửa.” Thời đó, người ta dùng gạch thay cho đá, và nhựa chai thế cho hồ. 4Họ còn nói: “Nào, chúng ta hãy xây cho mình một thành và dựng một tháp có đỉnh cao đến tận trời để chúng ta được nổi danh và không bị tản lạc khắp trên mặt đất.”
5Đức Giê-hô-va ngự xuống để xem thành và tháp mà con cái loài người đang xây dựng. 6Đức Giê-hô-va phán: “Nầy, chúng cùng một dân tộc, chung một ngôn ngữ. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì về sau sẽ không có việc gì chúng đã hoạch định mà không làm được. 7Thôi! Chúng Ta hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng, để chúng không hiểu được tiếng nói của nhau.” 8Rồi từ nơi đó, Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ ngưng công việc xây cất thành. 9Bởi vậy, chỗ đó được gọi là Ba-bên,#11:9 Ba-bên: Trong tiếng Ba-by-lôn từ nầy có nghĩa là “cổng các thần”; trong tiếng Hê-bơ-rơ, từ nầy có cách phát âm giống với từ có nghĩa là “lộn xộn”. vì tại đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế giới, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp mặt đất.
Tổ tông dân Y-sơ-ra-ên từ Áp-ra-ham đến Giô-sép
(11:10 – 50:26)
Gia phả của Áp-ram
10Đây là dòng dõi của Sem.
Hai năm sau trận lụt, Sem được một trăm tuổi, sinh A-bác-sát. 11Sau khi sinh A-bác-sát, Sem còn sống được năm trăm năm, sinh thêm con trai con gái.
12A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sinh Sê-lách. 13Sau khi sinh Sê-lách, A-bác-sát còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh con trai con gái.
14Sê-lách được ba mươi tuổi, sinh Hê-be. 15Sau khi sinh Hê-be, Sê-lách còn sống được bốn trăm lẻ ba năm, sinh thêm con trai con gái.
16Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sinh Pê-léc. 17Sau khi sinh Pê-léc, Hê-be còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sinh thêm con trai con gái.
18Pê-léc được ba mươi tuổi, sinh Rê-hu. 19Sau khi sinh Rê-hu, Pê-léc còn sống được hai trăm lẻ chín năm, sinh thêm con trai con gái.
20Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sinh Sê-rúc. 21Sau khi sinh Sê-rúc, Rê-hu còn sống được hai trăm lẻ bảy năm, sinh thêm con trai con gái.
22Sê-rúc được ba mươi tuổi, sinh Na-cô. 23Sau khi sinh Na-cô, Sê-rúc còn sống được hai trăm năm, sinh thêm con trai con gái.
24Na-cô được hai mươi chín tuổi, sinh Tha-rê. 25Sau khi sinh Tha-rê, Na-cô còn sống được một trăm mười chín năm, sinh thêm con trai con gái.
26Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran.
Dòng dõi Tha-rê
27Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sinh Áp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sinh Lót. 28Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc xứ Canh-đê, khi cha của ông là Tha-rê còn sống. 29Áp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Áp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca. Minh-ca và Dích-ca là con gái của Ha-ran. 30Sa-rai hiếm muộn, không có con.
31Tha-rê dẫn Áp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Áp-ram, tức dâu mình, cùng ra khỏi U-rơ, thuộc xứ Canh-đê, hướng đến Ca-na-an. Nhưng khi đến Cha-ran thì họ định cư tại đó. 32Tha-rê hưởng thọ được hai trăm lẻ năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

© 2010 United Bible Societies. All Rights Reserved.

Learn More About Kinh Thánh Hiệu Đính 2010 - Revised Vietnamese Bible