Ga-la-ti 4
VIE2010
4
Loài người ở dưới luật pháp hay ân điển
1Tôi muốn nói rằng bao lâu người thừa kế còn thơ ấu, dù làm chủ toàn bộ tài sản, thì cũng không khác gì một nô lệ. 2Người ấy còn phải ở dưới quyền của những người giám hộ và quản gia cho đến thời hạn mà người cha đã định. 3Chúng ta cũng vậy, khi còn thơ ấu, chúng ta làm nô lệ cho các nguyên lý sơ đẳng trong thế gian. 4Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến, do một người nữ sinh ra, sinh ra dưới luật pháp, 5để chuộc những người ở dưới luật pháp, và nhờ đó chúng ta được nhận làm con nuôi của Ngài. 6Vì anh em là con, nên Đức Chúa Trời đã sai Thánh Linh của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta kêu lên: “A-ba! Cha!” 7Như vậy nhờ ơn Đức Chúa Trời, anh em không còn là nô lệ nữa mà là con; và nếu là con, thì anh em cũng là người thừa kế.
Sự lo ngại của Phao-lô
8Trước kia, khi chưa biết Đức Chúa Trời, anh em làm nô lệ cho các thần vốn không phải là thần. 9Nhưng bây giờ anh em đã nhận biết Đức Chúa Trời, hay đúng hơn là đã được Đức Chúa Trời biết đến, thì sao anh em còn trở lại với các thứ thần linh hèn yếu, nghèo nàn đó? Anh em muốn trở lại làm nô lệ cho chúng sao? 10Anh em hãy còn giữ ngày, giữ tháng, giữ mùa, giữ năm! 11Tôi lo ngại cho anh em, e rằng tôi đã lao nhọc vô ích vì anh em.
12Thưa anh em, tôi xin anh em hãy trở nên giống tôi, vì tôi đã giống anh em. Anh em đã không đối xử tệ với tôi. 13Anh em biết rằng lần đầu tiên tôi đến truyền giảng Tin Lành cho anh em với một thể xác đau yếu; 14dù thể xác của tôi là một thử thách cho anh em, anh em cũng chẳng khinh khi hay miệt thị tôi, mà lại tiếp rước tôi như một thiên sứ của Đức Chúa Trời, như chính Đấng Christ Jêsus. 15Vậy phước hạnh ấy của anh em đâu rồi? Vì tôi làm chứng cho anh em rằng, nếu có thể được, thì anh em cũng móc mắt mình mà cho tôi. 16Vậy tôi trở nên kẻ thù của anh em vì nói sự thật với anh em sao? 17Những người đó nhiệt tình với anh em không phải vì ý tốt đâu, nhưng họ muốn chia rẽ anh em với chúng tôi để anh em nhiệt tình với họ. 18Lúc nào cũng nhiệt tình về điều tốt thì mới thật sự tốt, chứ không phải chỉ khi nào tôi có mặt giữa anh em mà thôi. 19Các con của ta ơi, vì các con mà ta lại phải chịu đau đớn của sự sinh nở cho đến khi Đấng Christ thành hình trong các con! 20Ước gì ta được ở với các con trong lúc nầy và lựa lời nói cho thích hợp,#4:20 Nn: thay đổi cách nói. vì ta rất bối rối về các con.
Hai giao ước: A-ga và Sa-ra
21Hãy nói cho tôi biết: Là những người muốn sống dưới luật pháp, anh em không nghe luật pháp nói gì sao? 22Vì có lời chép rằng Áp-ra-ham có hai con trai: một là con của người nữ nô lệ, một là con của người nữ tự do. 23Nhưng con của người nữ nô lệ sinh ra theo xác thịt, còn con của người nữ tự do sinh ra theo lời hứa. 24Điều nầy ngụ ý rằng hai người nữ đó là hai giao ước. Một là giao ước tại núi Si-na-i, sinh con ra để làm nô lệ, đó là A-ga. 25A-ga là núi Si-na-i trong miền Ả-rập, tương ứng với Giê-ru-sa-lem bây giờ, vì thành nầy cùng với con dân nó đều làm nô lệ. 26Nhưng Giê-ru-sa-lem thiên thượng là tự do; đó là mẹ chúng ta. 27Vì có lời chép:
“Hỡi người nữ hiếm muộn, không sinh con, hãy vui lên!
Hỡi người nữ chưa từng chịu đau đớn vì sinh nở, hãy cất tiếng reo mừng!
Vì con của người vợ bị ruồng bỏ đông hơn con của người nữ có chồng.”
28Thưa anh em, cũng như Y-sác, anh em là con của lời hứa. 29Nhưng như thuở ấy, kẻ sinh ra theo xác thịt bắt bớ người sinh ra theo Thánh Linh, thì bây giờ cũng vậy. 30Nhưng Kinh Thánh nói gì? “Hãy đuổi người nữ nô lệ và con trai nó đi, vì con trai của người nữ nô lệ sẽ không được chia gia sản với con trai của người nữ tự do.” 31Vì vậy, thưa anh em, chúng ta không phải là con của người nữ nô lệ, nhưng là con của người nữ tự do.

© 2010 United Bible Societies. All Rights Reserved.

Learn More About Kinh Thánh Hiệu Đính 2010 - Revised Vietnamese Bible