Ê-xê-chi-ên 40
VIE2010
40
Khải tượng về đền thờ mới
1Vào năm thứ hai mươi lăm sau khi chúng ta bị lưu đày, vào đầu năm, ngày mùng mười của tháng, tức là mười bốn năm sau khi Giê-ru-sa-lem bị thất thủ, cũng trong ngày ấy, tay của Đức Giê-hô-va đặt trên tôi và Ngài đem tôi vào trong thành ấy. 2Trong các khải tượng của Đức Chúa Trời, tôi thấy Ngài đem tôi vào đất Y-sơ-ra-ên và đặt tôi trên một hòn núi rất cao, trên núi đó, về phía nam, có một công trình kiến trúc giống như một thành. 3Khi Ngài dẫn tôi vào đó, tôi thấy một người hình dáng như người bằng đồng. Người ấy đứng nơi hiên cửa, tay cầm một sợi dây gai và một cây sào để đo. 4Người ấy bảo tôi: “Hỡi con người, hãy lấy mắt mà xem, lấy tai mà nghe và để lòng vào những việc mà tôi sẽ tỏ cho ông; vì để cho ông nhìn thấy mà ông được đem đến đây. Vậy hãy thuật lại mọi điều ông thấy cho nhà Y-sơ-ra-ên.”
5Kìa, có một cái tường ngoài bao chung quanh đền thờ. Người ấy cầm trong tay một cây sào để đo, dài ba mét, tức sáu am-ma, mỗi am-ma nầy dài hơn mét thường một gang tay. Người ấy đo bề rộng của tường là một cây sào và bề cao là một cây sào. 6Kế đó, người ấy đi đến nơi cổng phía đông, bước lên những tam cấp để đo ngạch cổng, bề rộng một cây sào; ngạch khác cũng rộng một cây sào. 7Mỗi phòng dài một cây sào và rộng một cây sào. Giữa các phòng có một khoảng cách hai mét rưỡi;#40:7 Nn: 5 am-ma; một am-ma tương đương 0,5 m. ngưỡng cửa gần bên tiền sảnh của cổng ấy rộng một cây sào. 8Người ấy đo tiền sảnh của cổng phía trong, cũng một cây sào. 9Người ấy đo tiền sảnh của cổng được bốn mét và những trụ nó được một mét. Đó là tiền sảnh của cổng phía trong. 10Nơi cổng phía đông, mỗi bên có ba phòng, cả ba phòng đều có kích thước bằng nhau; và các cột mỗi bên cũng có kích thước bằng nhau. 11Người ấy đo chiều rộng của lối vào cổng được năm mét và chiều dài được sáu mét rưỡi. 12Trước các phòng, mỗi bên có một hàng rào cao nửa mét, và mỗi phòng hình vuông mỗi cạnh ba mét. 13Người ấy đo cổng vào từ phía sau, từ mái của phòng nầy đến mái của phòng kia, được mười hai mét rưỡi chiều ngang; hai lối ra vào đối diện nhau. 14Người ấy đo các trụ là ba mươi mét, gần các trụ ấy có hành lang bao quanh cổng vào. 15Khoảng cách giữa cổng vào và tiền sảnh của cổng trong là hai mươi lăm mét. 16Các phòng và những trụ nó ở phía trong cổng cho đến các tiền sảnh đều có những cửa sổ chấn song. Phía bên trong và chung quanh đó đều có những cửa sổ.#40:16 Câu nầy trong nguyên tác không rõ nghĩa. Trên các trụ có những hình cây chà là.
17Sau đó, người ấy dẫn tôi vào hành lang ngoài. Nầy, tại đây có những phòng và lối đi lót đá chung quanh hành lang; dọc lối đi lót đá ấy có ba mươi phòng. 18Lối đi lót đá chạy dọc theo cổng, có chiều dài bằng cổng ấy. Đây là lối đi thấp có lót đá. 19Người ấy đo khoảng cách từ phía trước cổng dưới cho đến phía trước hành lang trong, được năm mươi mét phía đông, và phía bắc cũng vậy.
20Người lại đo chiều dài và chiều ngang của cổng phía bắc, dẫn đến hành lang ngoài. 21Hai bên cổng, mỗi bên có ba phòng; các trụ và tiền sảnh cũng đồng kích thước với cổng thứ nhất: hai mươi lăm mét chiều dài và mười hai mét rưỡi chiều ngang. 22Những cửa sổ, tiền sảnh và hình cây chà là của nó cũng đồng kích thước với cổng phía đông. Có bảy bậc thang dẫn lên cổng và một tiền sảnh ở bên trong nó. 23Đối diện với cổng phía bắc và cổng phía đông là cổng dẫn vào hành lang trong. Người ấy đo từ cổng nầy đến cổng kia, được năm mươi mét.
24Sau đó, người ấy dẫn tôi đi về phía nam. Nầy, tại đó có cổng phía nam. Người ấy đo các trụ và các tiền sảnh cũng đồng kích thước với nhau. 25Tiền sảnh ấy có những cửa sổ chung quanh giống như những cửa sổ khác. Chiều dài của tiền sảnh nầy là hai mươi lăm mét và chiều ngang là mười hai mét rưỡi. 26Có cầu thang bảy bậc dẫn lên cổng và một tiền sảnh ở bên trong nó; trên các trụ cả hai mặt đều có những hình cây chà là. 27Hành lang trong có một cái cổng xây về hướng nam, và người ấy đo từ cổng nầy đến cổng kia về phía nam là năm mươi mét.
28Kế đó, người ấy đem tôi vào hành lang trong qua cổng phía nam. Người ấy đo cổng phía nam và cổng ấy có đồng một kích thước với các cổng khác. 29Các phòng, các trụ và tiền sảnh của nó có cùng một kích thước với nhau. Cổng và các tiền sảnh đều có những cửa sổ chung quanh. Các tiền sảnh có chiều dài là hai mươi lăm mét và chiều ngang là mười hai mét rưỡi. 30Chung quanh có các tiền sảnh, chiều dài mười hai mét rưỡi, chiều ngang hai mét rưỡi. 31Các tiền sảnh của cổng đối diện hành lang ngoài đều có các hình cây chà là trên các trụ nó và có cầu thang tám bậc để bước lên.
32Kế đó, người ấy dẫn tôi vào hành lang trong về phía đông. Người đo cổng ấy và nó có cùng một kích thước với những cổng khác. 33Những phòng, những trụ và tiền sảnh của nó có cùng một kích thước như những cái khác. Cổng nầy và tiền sảnh đều có những cửa sổ chung quanh; các tiền sảnh dài hai mươi lăm mét, rộng mười hai mét rưỡi. 34Các tiền sảnh của cổng nầy đối diện với hành lang ngoài đều có hình cây chà là trên các trụ cả hai mặt và có một cầu thang tám bậc để bước lên.
35Rồi người ấy đem tôi vào trong cổng phía bắc; người ấy đo cổng ấy và nó có cùng một kích thước với những cổng khác. 36Những phòng, những trụ và những tiền sảnh của nó cũng có cùng kích thước và có những cửa sổ chung quanh. Cổng ấy có chiều dài hai mươi lăm mét, rộng mười hai mét rưỡi. 37Những trụ của nó đối diện với hành lang ngoài đều có hình cây chà là trên các trụ ấy cả hai mặt, và có một cầu thang tám bậc để bước lên.
38Một cái phòng có cửa ở gần các trụ của cổng ấy, là nơi người ta rửa các tế lễ thiêu. 39Trong tiền sảnh của cổng, có hai cái bàn mỗi bên, trên đó người ta giết những sinh tế dùng cho tế lễ thiêu, tế lễ chuộc sự mắc lỗi và tế lễ chuộc tội. 40Phía ngoài tiền sảnh, gần chỗ bước lên hướng về cổng phía bắc, có hai cái bàn; bên kia tiền sảnh của cổng cũng có hai cái bàn. 41Như vậy, có bốn cái bàn ở bên nầy cổng và bốn cái bàn ở bên kia, tổng cộng là tám cái. Trên các bàn đó, người ta giết những sinh tế. 42Lại có bốn cái bàn bằng đá vuông dùng cho tế lễ thiêu, dài nửa mét, rộng bảy mươi lăm cen-ti-mét, cao nửa mét. Người ta đặt trên đó những dụng cụ dùng để giết sinh tế cho tế lễ thiêu và các tế lễ khác. 43Có những móc rộng bằng lòng bàn tay gắn bốn phía tường; thịt tế lễ phải để trên các bàn.
44Phía ngoài cổng trong, có những phòng để cho người ca hát nơi hành lang kề bên cổng phía bắc, hướng về phía nam. Cũng có một phòng nữa về phía cổng đông, hướng về phía bắc. 45Người ấy bảo tôi: “Cái phòng hướng về phía nam dành cho các thầy tế lễ trông coi đền thờ, 46và cái phòng hướng về phía bắc dành cho các thầy tế lễ trông coi bàn thờ. Đó là các con trai của Xa-đốc, tức là trong vòng các con trai Lê-vi đến gần Đức Giê-hô-va để phụng sự Ngài.”
47Sau đó, người ấy đo hành lang vuông, chiều dài năm mươi mét và chiếu ngang năm mươi mét. Bàn thờ thì ở trước đền thờ.
Đền thờ
48Kế đến, người ấy đem tôi vào tiền sảnh của đền thờ và người ấy đo các trụ của tiền sảnh, mỗi bên hai mét rưỡi; chiều ngang của cổng là bảy mét, chiều sâu của cổng mỗi bên một mét rưỡi. 49Tiền sảnh có chiều dài mười mét và chiều ngang năm mét rưỡi. Có một cầu thang mười bậc dẫn lên tiền sảnh và bên cạnh các trụ có hai cây cột, mỗi bên một cây.

© 2010 United Bible Societies. All rights reserved.

Learn More About Kinh Thánh Hiệu Đính 2010 - Revised Vietnamese Bible