Nê-hê-mi 7
VIE2010
7
Bảo vệ thành Giê-ru-sa-lem
1Sau khi tường thành đã xây xong, tôi tra các cánh cửa và lập những người gác cổng, các ca sĩ và người Lê-vi làm nhiệm vụ. 2Tôi giao việc cai trị Giê-ru-sa-lem cho em tôi là Ha-na-ni và cho Ha-na-nia là quản đốc kinh thành, vì ông là người trung tín và kính sợ Đức Chúa Trời hơn nhiều kẻ khác. 3Tôi dặn họ rằng: “Đừng mở các cửa Giê-ru-sa-lem trước khi mặt trời lên cao, và phải đóng cửa, cài then lại khi lính canh còn ở đó. Cũng phải chỉ định người dân ở Giê-ru-sa-lem thay phiên canh gác, người thì đứng ở vọng canh, người thì đứng đối diện nhà mình.” 4Thành thì rộng lớn nhưng cư dân trong thành ít ỏi và nhà cửa còn thưa thớt.
Danh sách những người hồi hương
5Đức Chúa Trời thúc giục lòng tôi triệu tập những người quý tộc, các quan chức và dân chúng đến ghi tên theo gia phả. Tôi đã tìm được một cuốn gia phả của những người đã hồi hương lần đầu tiên và trong đó tôi thấy có ghi rằng:
6Đây là những người từ nơi lưu đày hồi hương, tức là những người bị vua Nê-bu-cát-nết-sa bắt đi Ba-by-lôn, nay họ trở về Giê-ru-sa-lem và Giu-đa, mỗi người về lại thành của mình. 7Họ trở về cùng với Xô-rô-ba-bên, Giê-sua, Nê-hê-mi, A-xa-ria, Ra-a-mia, Na-ha-ma-ni, Mạc-đô-chê, Binh-san, Mích-bê-rết, Biết-vai, Nê-hum và Ba-a-na.
Đây là số những người nam trong Y-sơ-ra-ên được kiểm tra: 8Con cháu Pha-rốt có hai nghìn một trăm bảy mươi hai người. 9Con cháu Sê-pha-tia có ba trăm bảy mươi hai người. 10Con cháu A-ra có sáu trăm năm mươi hai người. 11Con cháu Pha-hát Mô-áp, tức là con cháu của Giê-sua và Giô-áp, có hai nghìn tám trăm mười tám người. 12Con cháu Ê-lam có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người. 13Con cháu Xát-tu có tám trăm bốn mươi lăm người. 14Con cháu Xác-cai có bảy trăm sáu mươi người. 15Con cháu Bin-nui có sáu trăm bốn mươi tám người. 16Con cháu Bê-bai có sáu trăm hai mươi tám người. 17Con cháu A-gát có hai nghìn ba trăm hai mươi hai người. 18Con cháu A-đô-ni-cam có sáu trăm sáu mươi bảy người. 19Con cháu Biết-vai có hai nghìn không trăm sáu mươi bảy người. 20Con cháu A-đin có sáu trăm năm mươi lăm người. 21Con cháu A-te thuộc dòng dõi Ê-xê-chia có chín mươi tám người. 22Con cháu Ha-sum có ba trăm hai mươi tám người. 23Con cháu Bết-sai có ba trăm hai mươi bốn người. 24Con cháu Ha-ríp có một trăm mười hai người. 25Con cháu Ga-ba-ôn có chín mươi lăm người. 26Những người quê ở Bết-lê-hem và Nê-tô-pha có một trăm tám mươi tám người 27Những người quê ở A-na-tốt có một trăm hai mươi tám người. 28Những người quê ở Bết A-ma-vết có bốn mươi hai người. 29Những người quê ở Ki-ri-át Giê-a-rim, người Kê-phi-ra, và người Bê-ê-rốt, có bảy trăm bốn mươi ba người. 30Những người quê ở Ra-ma và Ghê-ba, có sáu trăm hai mươi mốt người. 31Những người quê ở Mích-ma có một trăm hai mươi hai người. 32Những người quê ở Bê-tên và A-hi có một trăm hai mươi ba người. 33Những người quê ở Nê-bô khác có năm mươi hai người. 34Con cháu Ê-lam khác có một nghìn hai trăm năm mươi bốn người. 35Con cháu Ha-rim có ba trăm hai mươi người. 36Con cháu Giê-ri-cô có ba trăm bốn mươi lăm người. 37Con cháu Lót, Ha-đít và Ô-nô có bảy trăm hai mươi mốt người. 38Con cháu Sê-na có ba nghìn chín trăm ba mươi người.
39Những thầy tế lễ: Con cháu Giê-đa-gia thuộc dòng dõi Giê-sua có chín trăm bảy mươi ba người. 40Con cháu Y-mê có một nghìn không trăm năm mươi hai người. 41Con cháu Pha-ru-sơ có một nghìn hai trăm bốn mươi bảy người. 42Con cháu Ha-rim có một nghìn không trăm mười bảy người.
43Những người Lê-vi: Con cháu Giê-sua và Cát-mi-ên, thuộc dòng dõi Hô-đê-va có bảy mươi bốn người.
44Các ca sĩ: Con cháu A-sáp có một trăm bốn mươi tám người.
45Những người gác cổng: Con cháu Sa-lum, con cháu A-te, con cháu Tanh-môn, con cháu A-cúp, con cháu Ha-ti-ta và con cháu Sô-bai, có một trăm ba mươi tám người.
46Những người phục vụ đền thờ: con cháu Xi-ha, con cháu Ha-su-pha, con cháu Ta-ba-ốt, 47con cháu Kê-rốt, con cháu Si-a, con cháu Pha-đôn, 48con cháu Lê-ba-na, con cháu Ha-ga-ba, con cháu Sanh-mai, 49con cháu Ha-nan, con cháu Ghi-đên, con cháu Ga-ha, 50con cháu Rê-a-gia, con cháu Rê-xin, con cháu Nê-cô-đa, 51con cháu Ga-xam, con cháu U-xa, con cháu Pha-sê-a 52con cháu Bê-sai, con cháu Mê-u-nim, con cháu Nê-phu-sê-sim, 53con cháu Bác-búc, con cháu Ha-cu-pha, con cháu Ha-rua, 54con cháu Bát-lít, con cháu Mê-hi-đa, con cháu Hạt-sa, 55con cháu Bạt-cô, con cháu Si-sê-ra, con cháu Tha-mác, 56con cháu Nê-xia, con cháu Ha-ti-pha.
57Dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn: Con cháu Sô-tai, con cháu Sô-phê-rết, con cháu Phê-ri-đa 58con cháu Gia-a-la, con cháu Đạt-côn, con cháu Ghi-đên, 59con cháu Sê-pha-tia, con cháu Hát-tinh, con cháu Phô-kê-rết Hát-xê-ba-im, con cháu A-môn.
60Tổng số người phục vụ đền thờ và dòng dõi của các đầy tớ Sa-lô-môn là ba trăm chín mươi hai người.
61Sau đây là những người trở về từ Tên Mê-la, Tên Hạt-sa, Kê-rúp, A-đôn và Y-mê, nhưng họ không thể tìm ra tổ tiên hoặc nguồn gốc của họ thuộc về Y-sơ-ra-ên hay không: 62Con cháu Đê-la-gia, con cháu Tô-bi-gia và con cháu Nê-cô-đa có sáu trăm bốn mươi hai người.
63Còn những thầy tế lễ: Con cháu Ha-ba-gia, con cháu Ha-cốt, con cháu Bạt-xi-lai (là người lấy vợ trong số con gái của Bạt-xi-lai, người Ga-la-át nên được gọi bằng tên ấy). 64Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không thấy nên bị loại ra khỏi chức tế lễ vì bị coi là ô uế. 65Quan tổng đốc cấm họ ăn những vật chí thánh cho đến khi có một thầy tế lễ dùng U-rim và Thu-mim#7:65 Xem chú thích ở Xuất 28:30. để cầu hỏi Đức Chúa Trời.
66Cả hội chúng tổng cộng là bốn mươi hai nghìn ba trăm sáu mươi người, 67không kể bảy nghìn ba trăm ba mươi bảy tôi trai tớ gái của họ và hai trăm bốn mươi lăm ca sĩ, cả nam lẫn nữ. 68Họ có bảy trăm ba mươi sáu con ngựa, hai trăm bốn mươi lăm con la, 69bốn trăm ba mươi lăm con lạc đà và sáu nghìn bảy trăm hai mươi con lừa.
70Một vài trưởng tộc đã dâng hiến vào quỹ công trình. Quan tổng đốc dâng cho quỹ công trình khoảng tám ký rưỡi#7:70 Nn: 1.000 đa-riếc. vàng, năm mươi chậu và năm trăm ba mươi bộ áo cho thầy tế lễ. 71Có mấy trưởng tộc dâng vào quỹ công trình khoảng một trăm bảy chục ký vàng và một nghìn hai trăm ký#7:71 Nn: 2.200 min. bạc. 72Dân chúng dâng phần còn lại, được khoảng một trăm bảy chục ký vàng, khoảng một nghìn một trăm ký bạc và sáu mươi bảy bộ áo thầy tế lễ.
73Như vậy, những thầy tế lễ, người Lê-vi, những người gác cổng, các ca sĩ, một số người khác và những người phục vụ đền thờ cùng cả Y-sơ-ra-ên đều ở trong thành của mình.
Đến tháng bảy thì dân Y-sơ-ra-ên đều ở trong các thành của mình.

© 2010 United Bible Societies. All Rights Reserved.

Learn More About Kinh Thánh Hiệu Đính 2010 - Revised Vietnamese Bible