Nê-hê-mi 4
RVV11
4
Kẻ thù chống đối việc tái thiết đền thờ
1 # 4:1 Trong bản Hê-bơ-rơ, câu nầy là 3:33. Khi San-ba-lát nghe tin chúng tôi xây sửa tường thành thì giận dữ và chế nhạo người Do Thái. 2Hắn nói trước mặt anh em hắn và quân đội Sa-ma-ri rằng: “Bọn Do Thái yếu đuối ấy làm được gì? Chúng sẽ xây lại tường thành ư? Chúng sẽ dâng tế lễ sao? Liệu chúng sẽ làm xong trong một ngày chăng? Đá đã cháy thiêu thành đống bụi đất rồi có thể phục hồi thành đá xây được sao?” 3Tô-bi-gia, người Am-môn, đứng bên cạnh hắn nói rằng: “Cái tường bằng đá mà chúng đang xây kia nếu có một con chồn leo lên đó cũng đủ sập xuống rồi!”
4“Lạy Đức Chúa Trời của chúng con! Xin lắng nghe vì chúng con bị khinh dể. Xin đổ lời sỉ nhục của chúng trên đầu chúng và phó chúng làm của cướp trong xứ mà chúng bị bắt làm tù binh. 5Đừng khỏa lấp gian ác của chúng hay bôi xóa tội lỗi chúng khỏi trước mặt Chúa, vì chúng đã chọc giận Chúa trước mặt các thợ xây cất.”
6Vậy chúng tôi xây cất tường thành cho đến khi cả bức tường đều nối liền với nhau và lên được phân nửa bề cao, vì dân chúng đều hết lòng làm việc.
7Nhưng khi San-ba-lát, Tô-bi-gia, những người Ả-rập, dân Am-môn và dân Ách-đốt nghe tin việc sửa chữa tường thành Giê-ru-sa-lem đang tiến triển và các lỗ hổng được lấp kín thì chúng rất giận dữ. 8Chúng họp nhau, âm mưu tiến đánh Giê-ru-sa-lem và làm cho thành bị rối loạn. 9Còn chúng tôi thì cầu nguyện với Đức Chúa Trời của chúng tôi và lập người canh gác ngày và đêm để chống lại chúng.
10Nhưng người Giu-đa nói: “Còn nhiều đống đổ nát mà sức lực của những người khuân vác đã kiệt quệ, chúng ta không thể xây cất tường thành được.” 11Các kẻ thù của chúng tôi nói rằng: “Chúng sẽ không hay không thấy gì cho đến chừng chúng ta đến giữa chúng, giết chúng và làm cho chúng phải ngưng công việc.” 12Khi những người Do Thái sống ở gần những kẻ thù báo cho chúng tôi đến mười lần rằng: “Kẻ thù sẽ tấn công chúng ta từ bốn hướng,” 13thì tôi lập những đồn trong các nơi thấp phía sau vách thành và ở những nơi trống trải, rồi đặt dân chúng theo từng gia tộc cầm gươm, giáo và cung. 14Sau khi xem xét, tôi trỗi dậy và nói với các người quý tộc, viên chức và dân chúng còn lại rằng: “Đừng sợ chúng. Hãy nhớ rằng Chúa là Đấng vĩ đại và đáng kính sợ sẽ chiến đấu cho anh em, con trai, con gái, vợ và cả nhà của anh em.”
15Khi các kẻ thù của chúng tôi hay rằng âm mưu của chúng đã bị bại lộ, và Đức Chúa Trời đã phá hỏng âm mưu của chúng thì tất cả chúng tôi đều trở lại nơi tường thành, mỗi người làm công việc mình. 16Từ ngày đó, phân nửa số người dưới quyền tôi làm công việc, còn phân nửa kia thì cầm giáo, khiên, cung và mặc áo giáp. Các người lãnh đạo đều đứng phía sau cả nhà Giu-đa, 17là những người đang xây sửa tường thành. Những người khuân vác vật liệu thì một tay làm công việc còn tay kia thì cầm vũ khí. 18Mỗi người xây dựng đều đeo gươm mình nơi hông khi làm việc. Còn người thổi kèn thì ở bên cạnh tôi. 19Tôi nói với các người quý tộc, các viên chức và dân chúng còn lại rằng: “Công việc thì lớn và kéo dài, còn chúng ta làm rải rác quanh tường thành, người này cách xa người kia. 20Vậy mỗi khi anh em nghe tiếng kèn nơi nào thì hãy tập hợp lại với chúng tôi nơi đó. Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta.”
21Vậy chúng tôi làm việc, phân nửa số người thì cầm giáo từ lúc rạng đông cho đến khi sao mọc. 22Trong lúc ấy, tôi cũng nói với dân chúng rằng: “Mỗi người hãy cùng với đầy tớ mình ngủ đêm ở Giê-ru-sa-lem để canh gác ban đêm và làm việc ban ngày.” 23Kể cả tôi, anh em tôi, các đầy tớ tôi, và các lính canh theo hộ vệ tôi, không một ai được cởi áo mình ra; mỗi người đều cầm vũ khí trong tay phải mình.#4:23 Nguyên tác có thêm chữ: “nước”, nên có bản dịch thêm: ngay cả khi đi uống nước.