Nê-hê-mi 2
VIE2010
2
Nê-hê-mi được phép trở về xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem
1Vào tháng Ni-san,#2:1 Hoặc: tháng A-bíp, tức tháng giêng theo lịch Do Thái, khoảng giữa tháng ba đến giữa tháng tư dương lịch. năm thứ hai mươi đời vua Ạt-ta-xét-xe, khi rượu được dọn sẵn trước mặt vua, tôi lấy rượu dâng cho vua. Chưa bao giờ tôi tỏ vẻ buồn rầu trước mặt vua. 2Vì vậy, vua hỏi tôi: “Sao vẻ mặt ngươi buồn rầu mặc dù ngươi không bị bệnh? Hẳn ngươi có điều buồn bã trong lòng.” Lúc ấy tôi rất sợ hãi. 3Tôi tâu với vua: “Nguyện vua vạn tuế! Làm sao mặt tôi không buồn khi thành trì là nơi mồ mả của tổ phụ tôi bị tàn phá và các cổng thành đều bị lửa đốt cháy?” 4Vua hỏi tôi: “Ngươi cầu xin điều gì?” Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời 5rồi tâu với vua: “Nếu vua hài lòng và nếu đầy tớ vua được ơn trước mặt vua, xin sai phái tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi để xây cất nó lại.” 6Khi ấy hoàng hậu cũng ngồi bên cạnh vua. Vua hỏi tôi: “Ngươi sẽ đi bao lâu và khi nào ngươi trở về?” Vậy vua bằng lòng sai tôi đi và tôi trình với vua thời gian đi và về. 7Tôi cũng tâu với vua: “Nếu vua hài lòng, xin vua trao cho tôi các văn thư gửi các quan tổng đốc tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát#2:7 Xem chú thích ở Era 4:10. cho phép tôi đi ngang qua cho tới khi tôi đến Giu-đa. 8Xin cũng ban chiếu chỉ cho A-sáp, người giữ rừng cho vua, bảo ông ấy cấp cho tôi gỗ làm khung cổng thành cạnh đền thờ và làm tường thành cùng nhà mà tôi sẽ ở đó.” Nhờ bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời tôi giúp đỡ, vua liền ban cho tôi các điều đó.
9Vậy tôi đến với các quan tổng đốc bên kia sông và trao cho họ những văn thư của vua. Vua cũng sai những quan chức và kỵ binh đi với tôi. 10Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn, hay điều đó thì lấy làm bất bình vì có người đến để tìm cách giúp dân Y-sơ-ra-ên được hưng thịnh.
Nê-hê-mi xem xét tường thành
11Vậy tôi đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày. 12Tôi và mấy người cùng theo tôi trỗi dậy lúc ban đêm, không cho ai hay biết điều gì Đức Chúa Trời đã đặt trong lòng tôi để thực hiện cho Giê-ru-sa-lem. Ngoài con lừa tôi cưỡi thì chẳng có con vật nào khác ở với tôi. 13Ban đêm tôi rời thành qua cổng Thung Lũng hướng về phía Suối Rồng và đến cổng Phân để xem xét các tường thành của Giê-ru-sa-lem bị đổ nát và các cổng thành bị lửa đốt cháy. 14Rồi tôi đi qua cổng Suối và đến Ao Vua nhưng không có nơi nào để con lừa tôi cưỡi đi ngang qua được. 15Do đó, tôi đi dọc theo thung lũng trong ban đêm để xem xét tường thành rồi tôi quay lại, bước vào cổng Thung Lũng mà trở về. 16Các quan chức không biết tôi đi đâu hoặc làm gì, vì tôi chưa nói cho người Do Thái hoặc các thầy tế lễ hoặc các người quyền quý hoặc quan chức hay là những người sẽ làm công việc, biết điều gì.
Quyết định xây lại tường thành
17Tôi nói với họ: “Anh em thấy chúng ta đang lâm vào cảnh khốn khổ, Giê-ru-sa-lem bị phá hủy và các cổng thành bị lửa thiêu đốt. Hãy đến, chúng ta hãy xây lại tường thành Giê-ru-sa-lem để chúng ta không còn bị sỉ nhục nữa.” 18Tôi cũng thuật cho họ thế nào bàn tay nhân lành của Đức Chúa Trời đã giúp đỡ tôi và các lời vua đã nói với tôi. Họ nói: “Nào, chúng ta hãy khởi công xây dựng lại ngay đi!” Vậy họ mạnh dạn bắt tay vào công việc tốt đẹp nầy.
19San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia là triều thần người Am-môn và Ghê-sem người Ả-rập nghe việc đó thì chế giễu và cười nhạo chúng tôi. Chúng nói rằng: “Các ngươi làm gì đấy? Các ngươi muốn phản nghịch vua sao?” 20Tôi trả lời với chúng rằng: “Đức Chúa Trời của các tầng trời sẽ giúp chúng tôi thành công. Chúng tôi là đầy tớ Ngài sẽ khởi công xây dựng lại, nhưng các ông thì không có phần hoặc có quyền lưu dấu gì ở Giê-ru-sa-lem cả.”

© 2010 United Bible Societies. All Rights Reserved.

Learn More About Kinh Thánh Hiệu Đính 2010 - Revised Vietnamese Bible